Thứ Tư, 17 tháng 10, 2012

CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA MĨ ĐỐI VỚI VIỆT NAM (1945 – 1954) QUA SÁCH VÀ TÀI LIỆU GIÁO KHOA MỘT SỐ NƯỚC


CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA MĨ ĐỐI VỚI VIỆT NAM

 (1945 – 1954) QUA SÁCH VÀ TÀI LIỆU GIÁO KHOA MỘT SỐ NƯỚC


              TS. Nguyễn Mạnh Hưởng
                                                                                 Khoa Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

Sách giáo khoa (SGK) và tài liệu giáo khoa môn Lịch sử (LS) là tài liệu học tập cơ bản cho học sinh (HS) ở các trường phổ thông. Nó thể hiện mục tiêu, nội dung chương trình đã qui định và phản ánh những thành tựu khoa học hiện đại, tương đối ổn định, được nhiều nhà nghiên cứu thừa nhận. Qua SGKLS, chúng ta có thể nhận thấy trình độ, định hướng phát triển về khoa học và giáo dục LS của một nước, cũng như việc đào tạo thế hệ trẻ. Với ưu điểm này, việc biên soạn SGKLS được các quốc gia đặc biệt quan tâm. LS Việt Nam giai đoạn 1945 – 1954 có vị trí quan trọng trong chương trình và SGK các nước, không chỉ ở phần “Lịch sử thế giới” được cấu tạo thành một khóa trình riêng song song với phần “Lịch sử dân tộc”, mà nó còn được tích hợp vào khóa trình của lịch sử dân tộc mình [1], [2], [6],... Trên cơ sở tìm hiểu một số sách và tài liệu giáo khoa của Mĩ và Anh, bài viết này trình bày những nét cơ bản về chính sách đối ngoại của Mĩ đối với Việt Nam giai đoạn 1945 – 1954(**).
1. Ủng hộ Việt Minh đánh Pháp, đuổi Nhật để giúp “họ” giành lại độc lập.
Tiếp cận với một số sách và tài liệu giáo khoa của Mĩ và Anh, các nhà nghiên cứu và giáo dục LS cho rằng trước Chiến tranh thế giới thứ hai, Việt Nam không có ảnh hưởng gì đối với thế giới, vì “họ còn đang chìm trong chế độ thực dân phong kiến và đang phải chống lại sự đô hộ của người Pháp”. Nhưng sau khi ông Hồ (Hồ Chí Minh – TC chú) cứu các nhân viên tình báo Mĩ (OSS) và coi Mĩ là một người bạn thì nước Mĩ đã chú ý đến Việt Nam, ủng hộ nền độc lập của Việt Minh do ông Hồ đứng đầu. Theo các SGK, từ những năm cuối của cuộc chiến tranh, mặc dù biết “Hồ Chí Minh là một cộng sản”, nhưng nước Mĩ vẫn gửi 500 khẩu súng cho Việt Minh để chống lại người Nhật Bản [4; 21], [6; 228], đồng thời phản đối người Pháp có ý định dành lại sự thống trị ở Đông Dương khi quân Nhật liên tiếp thất bại [4;23]. Năm 1943, Tổng thống Rudơven đã lên án chính sách của Pháp đối với nhân dân Đông Dương: “Nước Pháp đã cai trị miền đất 30 triệu dân được gần 100 năm, nhưng những con người ở nơi đây còn nghèo khổ hơn khi họ đến” [4; 23 – 24], vì thế ông mong đợi “khi cuộc chiến tranh kết thúc (Chiến tranh thế giới thứ hai– TG chú), Đông Dương nên được quyền tự trị” [6; 228].
2. Ủng hộ, giúp đỡ Pháp quay trở lại xâm lược Đông Dương.
Sự thay đổi trong chính sách đối ngoại của Mĩ đối với Việt Nam từ khi Tơruman lên làm Tổng thống, vì đã không thực hiện theo chính sách đối ngoại của Rudơven. Lúc này, “Đông Nam Á đã là một thế giới khác đối với Tơruman” [4; 24]. Cụ thể hóa cho chính sách của Tổng thống tiền nhiệm mới, các sách và tài liệu giáo khoa ghi rõ: Tại Hội nghị Pốtxđam (tháng 7/1945), các nước đồng minh – trong đó Mĩ đóng vai trò trọng yếu đã vạch ra một kế hoạch tỉ mỉ đối với việc đầu hàng của quân đội Nhật Bản. Theo đó, người Trung Quốc (trên thực tế là quân Trung Hoa dân quốc) sẽ đảm nhiệm việc giải giáp lực lượng Nhật Bản ở Bắc vĩ tuyến 16, quân Anh sẽ đóng ở Sài Gòn và đối phó với lực lượng Nhật Bản ở Nam vĩ tuyến. Sau chiến tranh, nước Việt Nam thuộc Pháp trước đây đã giành được độc lập, do Hồ Chí Minh – một người cộng sản được huấn luyện ở Liên Xô đứng đầu đã buộc nước Mĩ phải quan tâm.
Đặc biệt, từ việc nhìn nhận “Liên Xô là một mối đe dọa đối với nền an ninh hòa bình thế giới”, cũng như Đảng Cộng sản Pháp đang ngày một gia tăng (điều mà Tơruman không hề muốn), chính sách của Mĩ đối với Việt Nam đã thay đổi hoàn toàn: “Ông ta không những không ngăn cản người Pháp quay trở lại xâm lược Đông Dương, mà còn giúp đỡ, ủng hộ Pháp giành lại những thuộc địa của mình” [3; 414]. Tổng thống Tơruman cũng giúp đỡ Pháp khắc phục hậu quả sau Chiến tranh thế giới thứ hai và đối phó với các thuộc địa của mình bằng cách “rót những trận mưa vàng và đôla thông qua kế hoạch Mácsan, dĩ nhiên Việt Minh không nhận được bất cứ thứ gì từ phía Mĩ” [4; 26]. Nhờ có sự giúp đỡ của Mĩ, thực dân Pháp đẩy mạnh xâm lược trở lại Đông Dương và gây nên “chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất (1946 – 1954)(*).
Như vậy, chính sách đối ngoại của Mĩ đối với Việt Nam những năm cuối của Chiến tranh thế giới thứ hai và những năm đầu sau chiến tranh có sự thay đổi hoàn toàn. Lí giải về sự thay đổi này, các SGK và tài liệu giáo khoa đều đưa ra hai lí do: Tổng thống tiền nhiệm mới – Tơruman không thực hiện theo chính sách ủng hộ nền độc lập của Việt Minh mà Rudơven đã phát biểu; hai là do bối cảnh của “Chiến tranh lạnh”, sự đối đầu giữa hai cực Xô – Mĩ (Việt Nam được Liên Xô ủng hộ).
3. Can thiệp sâu và “dính líu” trực tiếp vào cuộc chiến tranh của Pháp ở Đông Dương.
Nghiên cứu về chính sách đối ngoại của Mĩ đối với Việt Nam (1945 – 1954)  ta thấy việc giúp đỡ Pháp đề ra kế hoạch Rơve (ngày 13/5/1949), công nhận Chính phủ Bảo Đại (ngày 7/2/1950), viện trợ kinh tế và quân sự cho Pháp (ngày 8/5/1950) là thể hiện rõ sự can thiệp sâu và “dính líu” trực tiếp của Mĩ vào cuộc chiến tranh ở Đông Dương [12; 136]. SGK và các tài liệu giáo khoa của Mĩ và Anh lại lí giải về việc can thiệp và “dính líu” của Mĩ là do lo sợ “cộng sản chủ nghĩa” sẽ bao trùm khắp Đông Nam Á, lan sang châu Á, châu Mĩ,…. Theo họ, trong thời gian đầu của cuộc chiến tranh, chính quyền Mĩ khá yên tâm về sự có mặt của người Pháp ở đây, nhưng từ khi cách mạng Trung Quốc thành công, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Trung Hoa ra đời đã giúp đỡ Bắc Triều Tiên đẩy lùi quân Nam Triều Tiên tới vĩ tuyến 38, rồi viện trợ cho Việt Minh đánh thắng Pháp trong nhiều chiến dịch, giải phóng nhiều vùng đất đai rộng lớn thì Mĩ không thể làm ngơ. Chính quyền Oasinhtơn đã bắt đầu nhìn cuộc chiến tranh Đông Dương bằng một viễn cảnh khác, coi Đông Dương là một phạm vi hoạt động quan trọng trong chiến lược chống lại chủ nghĩa cộng sản toàn cầu [4; 32], [9; 34]. Sứ mệnh của nước Mĩ được các nước tư bản đồng minh giao phó sau Chiến tranh thế giới thứ hai là phải bảo vệ được “thế giới tự do”, chống lại “sự đe dọa” của chủ nghĩa cộng sản, nhưng cuộc “chiến tranh Đông Dương thuộc Pháp” cho thấy nguy cơ cộng sản bành trướng đang đến gần, vì vậy Mĩ phải hành động sớm hơn. Sự lo ngại về chủ nghĩa cộng sản lan ra khắp thế giới đã được chính quyền Mĩ đưa ra thông qua ‘Học thuyết Đôminô” vào năm 1950. Học thuyết này cho biết, trong một ván cờ Đôminô, nếu một quân cờ đổ xuống thì tất cả các quân còn lại trong ván cờ ấy cũng sẽ đổ xuống theo như một sợi dây chuyền không thể nào ngăn cản nổi. Sách nhấn mạnh:
“Toàn bộ nền an ninh của thế giới tự do phụ thuộc vào sự sống còn của Đông Dương thuộc Pháp, và nếu Hồ Chí Minh thành công trong việc xâm chiếm Bắc Kì, Trung Kì, Nam Kì thì sự sụp đổ của Lào, Campuchia chỉ là vấn đề thời gian mà thôi. Nếu Đông Dương nằm trong tầm tay của Đảng Cộng sản thì ván vờ Đôminô sẽ bị sụp đổ theo hai hướng: Thái Lan và Miến Điện (tức Mianma – TG chú thích) sẽ đầu hàng, khi ấy Pakixtan và Ấn Độ, Ápganixtan và phần còn lại của Trung Đông sẽ bị sụp đổ. Sau đó, cộng sản sẽ nhanh chóng xâm nhập vào Bắc Phi và toàn bộ miền Địa Trung Hải,… Hơn nữa, sự sụp đổ ở Việt Nam có thể làm lung lay Malaysia, Philippin, Inđônêxia và một khi Inđônêxia sụp đổ thì Australia, Niudilân cũng sẽ sụp đổ theo” [4; 32]. Vì vậy, để “bảo vệ thế giới tự do”, Mĩ “sẽ trả bất cứ cái giá nào, chịu đựng mọi gánh nặng, đương đầu với mọi khó khăn, hậu thuẫn bất cứ người bạn nào, chống lại bất cứ kẻ thù nào để đảm bảo sự sống còn và thắng lợi của tự do” [11; 195].
Từ việc lí giải lí do trên, chính quyền Tơruman đã ủng hộ Bảo Đại và bắt đầu hỗ trợ cho Pháp về kinh tế, quân sự chống lại cuộc xung đột ở Đông Dương, mức viện trợ ban đầu chỉ khiêm tốn 10 triệu USD. Vào giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh (1954), viện trợ của Mĩ cho Pháp đã lên tới 80%, hơn cả số tiền mà Mĩ cung cấp cho Pháp dưới kế hoạch Mácsan [5; 34]. Song, sự viện trợ của Mĩ cũng không thể làm tăng thêm sức mạnh cho Pháp và Điện Biên Phủ vẫn sẽ bị mất trong một thời gian không xa. Tình hình ấy khiến tướng Pau Ely – Tham mưu trưởng quân đội Pháp tức tốc bay tới Oasinhtơn (ngày 20/3/1954) để gặp Tổng thống Aisenhao. Lập tức, Quốc hội Mĩ thảo luận xoay quanh vấn đề giúp đỡ Pháp bằng cách “sử dụng không quân ném bom nguyên tử” hay “pháo binh”? Hai trong số nhiều người ủng hộ nhất là Phó Tổng thống Níchxơn và Tham mưu trưởng Rát –Pho. Tài liệu dẫn lời của Rát-Pho như sau:
“Chúng ta có thể giúp đỡ người Pháp bằng việc tấn công không quân …. Nếu ta sử dụng vũ khí nguyên tử, chúng ta có thể sẽ thành công” [4; 43 - 44].
Khi thực dân Pháp ngày càng sa lầy, có ý thương lượng với Chính phủ Việt Minh để rút quân về nước thì Níchxơn phản đối: “Không thể hạ vũ khí khi chưa giành được chiến thắng hoàn toàn. Nếu Pháp ngừng chiến đấu, Mỹ sẽ phải đưa quân đến” [13; 69].
Cuối cùng, tại một cuộc họp quan trọng của Hội đồng an ninh quốc gia (vào 4/1954), khi vấn đề tranh cãi lại diễn ra có hay không sử dụng vũ khí nguyên tử thì Tổng thống Aisenhao đã bực tức ngang cuộc thảo luận: “Trời ơi! Các anh hẳn là những đứa trẻ mất trí. Chúng ta không thể sử dụng điều tồi tệ ấy để chống lại những người châu Á lần thứ hai” [4; 46]. Vì không được Mĩ giúp đỡ đến cùng, quân Pháp bị thất bại thảm hại ở Điện Biên Phủ (7/5/1954). Sau đó, Hiệp định Giơnevơ về Đông Dương được kí kết chấm dứt chủ nghĩa thực dân Pháp, nhưng “Hiệp định hòa bình đã chứa đựng những thiếu sót mà chính nó góp phần vào làm tai họa sau này” Sau năm 1954, miền Bắc Việt Nam trở thành nước Dân chủ cộng hòa (Hà Nội), miền Nam trở thành nước Cộng hòa đặt dưới tay một tên độc tài phản động Ngô Đình Diệm (ở Sài Gòn) [9; 330], [11; 66],….
4. Thay lời kết
Trên cơ sở tiếp cận với một số SGK và tài liệu giáo khoa của Mĩ và Anh viết về chính sách đối ngoại của Mĩ đối với Việt Nam (1945 – 1954), chúng ta thấy LS Việt Nam có vị trí quan trọng trong chương trình “Lịch sử thế giới” và “Lịch sử dân tộc” mỗi nước. Nguồn tài liệu cũng cho biết chính sách của Mĩ đối với Việt Nam không ổn định, liên tục có sự thay đổi: từ ủng hộ Việt Minh đánh Pháp, đuổi Nhật (những năm cuối của Chiến tranh thế giới thứ hai đến tháng 3/1945) đến ủng hộ, giúp đỡ Pháp xâm lược trở lại Đông Dương (từ 1945 đến  1948), sau đó chuyển sang can thiệp và “dính líu” trực tiếp vào cuộc chiến tranh của Pháp ở Đông Dương (từ 1949 đến 1954).
Trên thực tế, Mĩ không chỉ ủng hộ Pháp mà còn giúp đỡ cả quân đội Trung Hoa dân quốc phá hoại cách mạng Việt Nam những ngày đầu sau Cách mạng tháng Tám năm 1945. Lên thay Rudơven trong bối cảnh phong trào cách mạng thế giới diễn ra mạnh mẽ, Tơruman chủ yếu lo giúp quân Trung Hoa dân quốc (đứng đầu là Tưởng Giới Thạc) chống lại lực lượng của Đảng Cộng sản (do Mao Trạch Đông lãnh đạo). Tại Hội nghị Ianta (2/1945), Tổng thống Tơruman đã đồng ý để quân Trung Hoa Trung Quốc vào Việt Nam giải giáp quân phiệt Nhật Bản từ vĩ tuyến 16 đổ ra Bắc, cũng nhiệm vụ ấy do quân Anh đảm nhiệm từ vĩ tuyến 16 đổ vào Nam. Chính sách của Mĩ đối với Việt Nam lúc này là đưa những phần tử thân Tưởng vào làm “những con ngựa của thành Tơroa”. Nhưng do cuộc chiến tranh ở Trung Quốc ngày càng phát triển và sự kiểm soát của Việt Minh lan ra cả nước Việt Nam, nên chính quyền Tơruman buộc phải lùi một bước, chấp nhận để Pháp quay trở lại Đông Dương, đồng ý cho Tưởng kí với Pháp Hiệp ước Hoa – Pháp (ngày 28/2/1946).
Đến giữa năm 1950, khi Pháp ngày càng thất bại, Mĩ liền đưa phái đoàn “cố vấn” viện trợ quân sự (MAAG) sang Việt Nam để giúp đỡ, ủng hộ tài chính,… Đến năm 1954, chi phí quân sự của Mĩ cho Pháp chiếm 80%, hơn cả số tiền mà Mĩ giúp đỡ Pháp trong kế hoạch Mácsan 1954, [10; 34]. Sự dính líu của Mĩ vào cuộc chiến tranh này ngày càng thêm sâu, đến mức Nghị sĩ Đảng Cộng hòa là Smít lên tiếng: “Mặc dù chúng ta không trực tiếp làm chiến tranh ở Đông Dương, nhưng cũng gần như chúng ta đã làm chiến tranh rồi”[14; 23]. Trong khi quân dân ta đang tấn công Pháp ở Điện Biên Phủ, Tổng thống Aisenhao quyết định, nếu không có cách nào khác để ngăn chặn Đông Dương rơi vào tay cộng sản thì Mĩ sẽ can thiệp, thậm chí dùng cả bom nguyên tử để hủy diệt tiền đồn của Việt Minh. Tuy nhiên, ông ta cũng thận trọng khi tuyên bố chỉ can thiệp nếu có được 3 điều kiện:
-         Được sự ủng hộ của các nước đồng minh, trước hết là Anh
-         Pháp phải trao trả hoàn tòan độc lập cho các nước Đông Dương
-         Được sự đồng ý, tán thành của Quốc hội Mỹ
Đầu tháng 4/1954, khi Tướng Nava báo cáo Điện Biên Phủ có thể mất nếu không có cuộc oanh tạc của không quân Mĩ. Chính phủ Pháp chính thức yêu cầu Mĩ can thiệp, nhưng không thành, do không được sự tán thành của Quốc hội, đặc biệt là không có sự giúp đỡ từ phía nước Anh. Ý của Mĩ lúc này là muốn “quốc tế hóa” cuộc chiến tranh do Mĩ cầm đầu. Cuối cùng, không có sự can thiệp của Mĩ, chiều ngày 7/5/1954, quân Pháp thất bại hoàn toàn ở Điện Biên Phủ. Như thế, sự thất bại của Pháp ở Điện Biên Phủ cũng đồng thời là sự thất bại của Mĩ.
                                                       *         *                   
*                                        
Một cách khái quát, việc tìm hiểu, nghiên cứu SGK và tài liệu giáo khoa nước ngoài để so sánh, đánh giá và có cái nhìn toàn diện về mối quan hệ giữa LS Việt Nam với các nước là cần thiết. Nhưng chúng ta cần có tinh thần khách quan, thái độ đúng đắn, biết phê phán những quan điểm sai lệch của các tác giả./.

Trích dẫn:

1.      Herbert J. Bass, George. H Billas, Emma Johes Lapsansky (1983). America and Americans. Volume II (For High school). The Ecker Institude, New Jenef.
2.      I R Win Unger, Debi Unger (1990). Twentieth Century America. Martin’ Press. New York.
3.      Jack Abramovitz (1984). America history. Sixth Edition, Follett Social Studies.
4.      James S. Olson, Randy Roberts (1996). Where the Domino fell. America and VietNam 1945 – 1954. New York, S.t Martin’ Press.
5.      John Hamer (1986). History in the Twentieth Century. Macmilan Education LTD. Lon Don.
6.      John Martell (1990). The Twentieth Century World. Third Edition. Harpap Limited. Lon Don.
7.      John R. O’ Conno (1998). Exploring World History – A Global Appoach. Globe book Company, Inc. New York – Chicago – Cleveland.
8.      Richrt N. Current, Alescanshe De Conde, Harris L. Dante (1994). States History – A world power. ScoH, Foresman and Company.
9.      Philip Sauvan (1997). The morden world 1914 – 1918. Stanley Thornes Publisher Ltd.
10.  Steven Cohen (1983). Viet Nam Anthology and Guide to A Television History. Alfred A. Knopf. New York.
11.  The World history. New York, 1987
12.  Phan Ngọc Liên (Tổng Chủ biên) (2008). Sách giáo khoa Lịch sử 12. Nxb Giáo dục. HN
13.       Virginia Brodine, Mark Selden, Keith Bucbanan, John Dower (1972). Open scret. The Kissinger – Nixondoc – Trine in Asia. Why we are never leaving? Harper and Row. New York.
14.       Trần Bá Đệ (1983). Từ Điện Biên Phủ đến Điện Biên Phủ trên không – đế quốc Mĩ từ chùn bước đến thất bại. Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 6.


(**) Khác với Việt Nam, các trường phổ thông ở Mĩ có thể sử dụng nhiều bộ SGK khác nhau
(*) SGK và tài liệu giáo khoa của Mĩ, Anh gọi cuộc chiến tranh Pháp xâm lược Việt Nam (1945 – 1954) là chiến tranh Đông Dương lần 1 để phân biệt với cuộc chiến tranh Đông Dương lần 2 (1954 – 1975) mà Mĩ xâm lược ở Đông Dương. Một số tài liệu này gọi là cuộc chiến tranh nóng lần thứ hai để phân biệt với chiến tranh Triều Tiên (1950 – 1953) [1; 452], [5; 214], [9; 330],…
Về thời gian kết thúc chiến tranh giữa các cuốn SGK của Mĩ và Anh chưa có sự thống nhất: Hầu hết lấy từ sự kiện đêm 19/12/1946 đến 7/5/1954, nhưng cũng có tài liệu viết từ 1945 đến 1954 [4; 24].

Thứ Năm, 4 tháng 10, 2012

Dioxin và cuộc chiến Việt Nam


Dioxin và cuộc chiến Việt Nam
Hủy diệt môi sinh luôn luôn là một thủ đoạn rất cổ xưa và rất thông thường trong chiến tranh. Khi kĩ thuật và công nghệ trở nên tinh vi, sự hủy diệt môi trường càng trở nên khốc liệt.  Có thể nói chiến dịch dùng độc chất ở Việt Nam là một sự phá hoại môi sinh lớn nhất trong lịch sử chiến tranh thế giới.
Ngược dòng lịch sử
            Chiến dịch sử dụng hóa chất trong cuộc chiến Việt Nam của quân đội Mĩ không phải là lần đầu tiên trong lịch sử chiến tranh cận đại.  Trong Thế chiến thứ II, Chính phủ Mĩ ủy nhiệm và cung cấp ngân sách cho Hội đồng Khoa học Quốc gia để phát triển một hóa chất dùng cho tiêu hủy đồng lúa và vụ mùa của Nhật.  (Nên nhớ rằng lúc đó lúa gạo là nguồn thực phẩm chính của người Nhật.)  Kết quả của nghiên cứu này là 2,4-D và 2,4,5-T (tức là Chất màu da cam ngày nay) ra đời.  Tuy nhiên, qua thảo luận giữa Tổng thống D. Roosevelt và Chánh văn phòng Nhà trắng, Đô đốc William D. Leahy quyết định không sử dụng hóa chất này trong cuộc chiến với Nhật.  Do đó, chất màu da cam không được dùng trong Thế chiến thứ II.
            Nhưng trong đầu những nhà cầm quyền Tây phương, việc sử dụng hóa chất như là một vũ khí trong chiến tranh vẫn là một lựa chọn.  Vào cuối thập niên 1950, qua sự thành công của Anh trong việc sử dụng hóa chất 2,4,5-trichlorophenoxyacetic (2,4,5-T) để tiêu hủy mùa màng ở Malaya, Bộ quốc phòng Mĩ lại ủy nhiệm cho cơ quan ARPD (Advanced Research Project Agency) nghiên cứu và phát triển các hóa chất diệt cỏ để dùng cho các mục đích quân sự [1].  Một cuộc thử nghiệm tương đối qui mô đầu tiên dùng hóa chất màu tím (Agent Purple) được tiến hành ở Trại Drum (bang New York) vào năm 1959, và mô hình này được ứng dụng trong chiến tranh Việt Nam sau đó vài năm [2].
            Giữa lúc cuộc chiến giữa Việt Nam và Mĩ càng ngày càng đi vào giai đoạn ác liệt, và trước sự thất bại của Mĩ trong việc theo dõi quân đội Việt Nam, giới quân sự và chính trị Mĩ nghĩ đến việc dùng hóa chất.  Giới quân sự Mĩ lí giải rằng, chất màu da cam nên được dùng bởi vì nó có thể “khai quang”, tức là làm trống đồng cỏ, quân đội Việt Nam sẽ không có nơi để ngụy trang, và không quân Mĩ tha hồ bỏ bom cắt tuyến đường Trường Sơn. 
Ngày 30 tháng 11 năm 1961,  Tổng thống John F. Kennedy phê chuẩn cho quân đội Mĩ tiến hành chiến dịch khai quang đồng cỏ Việt Nam [3].  Quyết định này được Ngô Đình Diệm, lúc đó là Tổng thống nam Việt Nam (một chính phủ do Mĩ dựng nên và nuôi dưỡng), ủng hộ nồng nhiệt.  Diệm cho rằng ông ta “biết cộng sản đang ở đâu”, và tin rằng chiến dịch này sẽ thành công mĩ mãn [4].  Ngược lại với quan điểm của Diệm, các giới chức cao cấp trong Bộ ngoại giao Mĩ như Roger Hilsman và W. Averell Harriman phản đối quyết định của Tổng thống Kennedy, vì họ cho rằng không có cách gì để biết được là chiến dịch sẽ “khai quang” hay đồng ruộng của dân sẽ bị tiêu hủy [5].  (Họ, người Mĩ, xem ra còn có quan tâm đến sinh mạng và cuộc sống của người Việt hơn là ông Diệm).  Ông Averell và Hilsman còn lí giải rằng nếu Mĩ dùng hóa chất trong cuộc chiến, Việt Nam sẽ có lí do để tố cáo Mĩ là “đế quốc ngoại bang dã man” (“foreign imperialist barbarism”).  Nhưng chiến dịch vẫn được thi hành.
Hóa chất bắt đầu được vận chuyển đến Việt Nam trong thời gian từ tháng 8 đến tháng 12 năm 1961.  Các hóa chất này được chứa trong các thùng phuy, với mã màu khác nhau: chất màu hồng (Agent Pink), chất màu xanh lá cây (Agent Green), màu tím (Agent Purple), màu da cam (Agent Orange), màu trắng (Agent White), và màu xanh da trời (Agent Blue).  Mỗi thùng phuy chứa khoảng 250 lít (tức 55 gallons).  Mỗi loại hóa chất màu có thành phần hóa học khác nhau, nhưng nói chung phần lớn chúng đều có thành phần 2,4,5-T, tức có chứa dioxin.  Dioxin, như đã và sẽ đề cập trong một phần sau, là một độc chất có khả năng gây ra ung thư và hàng loạt bệnh tật khác trên con người.  Vì thế, nói đến chất màu da cam, người ta thường hay đồng hóa với dioxin.
Chiến dịch xịt hóa chất xuống Việt Nam có tên là "Operation Trail Dust".  Trong chiến dịch này có nhiều chiến dịch và chương trình nhỏ.  Chiến dịch Ranch Hand (nằm trong chiến dịch Trail Dust) thực hiện khoảng 95% việc xịt hóa chất.  Khi đến Việt Nam, trên danh nghĩa, các hóa chất này thuộc quyền sở hữu của chính phủ miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ.  Điều này có nghĩa là quân đội Nam Việt Nam trực tiếp quản lí và sử dụng các hóa chất này.  Trong chương trình có tên là “Farmgate” (do Bộ quốc phòng Mĩ điều khiển), máy bay mang nhãn hiệu Việt Nam, do phi công mặc đồ dân sự lái và với sự trợ giúp của một nhân viên người Việt, đã tiến hành những phi vụ tiêu hủy mùa vụ ở miền Nam và Trung Việt Nam.
            Trong chiến dịch Ranch Hand, có nhiều dự án với những mục tiêu cụ thể, chẳng hạn như xịt ở đâu, bao nhiêu, loại hóa chất nào, và do ai tiến hành.  Mỗi dự án đều có sự chấp thuận của hai bên, Mĩ và Nam Việt Nam. 
Như đề cập trên, cá nhân Tổng thống John F. Kennedy trực tiếp phê chuẩn chiến dịch xịt hóa chất, nhưng tất cả các mục tiêu, địa điểm xịt đều phải qua phê chuẩn của Văn phòng tổng thống (Oval Office).  Đến cuối năm 1962, vì bận nhiều việc khác, Tổng thống Kennedy ủy nhiệm một phần quyền hạn này cho đại sứ Mĩ tư lệnh quân đội tại Việt Nam (theo “Message, Department of State to AMEMBASSY Saigon, Joint State-Defense Message No. 561, ngày 30 tháng 11 năm 1962).
            Kể từ năm 1962, Lực lượng Không quân Mĩ đã bắt đầu rải hóa chất ở qui mô lớn trong các vùng đất thuộc miền Nam và Trung Việt Nam.  Phần lớn (90%) AO được rải xuống Việt Nam bằng máy bay loại C-123, và phần còn lại (10%) bằng trực thăng, xe vận tải, và đi bộ. 
Dư luận thế giới
Chiến dịch dùng hóa chất của Mĩ ở Việt Nam bị dư luận thế giới lên án gay gắt.  Hầu như tất cả báo chí Âu châu và ngay trong nước Mĩ, giới khoa học và trí thức thế giới cực lực phản đối hành động của Mĩ và đòi hỏi Chính phủ Mĩ phải ngưng ngay việc dùng hóa chất độc hại.  Bertrand Russell, một nhà toán học danh tiếng trên thế giới, tố cáo thẳng thắn rằng quân đội Mĩ đang tiến hành một cuộc chiến tranh hóa học ở Việt Nam, qua việc sử dụng hóa chất có khả năng gây ra ung thư trong con người.  Trong khi đó, một thượng nghị sĩ Mĩ, Robert W. Kastenmeier (Wisconsin), cảm thấy tình hình bất ổn, ông viết cho Tổng thống Kennedy chất vấn việc dùng hóa chất và đặt vấn đề chế độ Diệm có xứng đáng để Mĩ phải hi sinh nguyên tắc đạo đức hay không [6].
Tháng 1 năm 1966, Giáo sư John Edsall (Đại học Harvard) và một nhóm gồm 29 nhà khoa học ở Thành phố Boston viết một thư phản đối việc dùng hóa chất để tiêu hủy mùa vụ của nông dân.  Họ cho đó là một hành động vô nhân đạo và dã man [7].  Một năm sau, Cố vấn khoa học cho Tổng thống  nhận được một thư phản kháng từ 5.000 nhà khoa học trên thế giới, trong đó có 17 người từng đoạt giải Nobel và 129 thành viên của Viện Hàn lâm Khoa học Mĩ, yêu cầu Tổng thống Lyndon B. Johnson chấm dứt ngay hành động hủy diệt môi sinh tại Việt Nam [8]. 
            Năm 1967, Hiệp hội vì Phát triển Khoa học Mĩ (American Association for the Advancement of Science), với sự thúc đẩy của Giáo sư E. W. Pfeiffer (Đại học Montana), khuyến cáo Bộ quốc phòng Mĩ về hậu quả lâu dài cho người dân và môi sinh Việt Nam do chiến dịch Ranch Hand gây ra.  Bộ Quốc phòng ủy nhiệm cho Viện Nghiên cứu khoa học Trung Tây (Midwest Research Institute) nghiên cứu về ảnh hưởng của chất màu da cam ở Việt Nam.  Dựa vào các dữ kiện khoa học thời đó, Viện này kết luận rằng ảnh hưởng của chất màu da cam ở Việt Nam đến đất đai sẽ không lâu; họ cho rằng đất đai sẽ hồi phục sau một thời gian.  Nhưng họ cũng đề nghị cần phải nghiên cứu thêm về hậu quả của chất màu da cam đến sức khỏe con người [10].
            Đại sứ Ellsworth Bunker tại Sài Gòn lúc đó cũng tổng kết sự tiến triển của Chiến dịch Ranch Hand, và ông đánh giá rằng Chiến dịch đã thành công trên phương diện quân sự, nhưng những tàn phá môi trường, mùa vụ, và sự sống của người dân là một mối quan tâm [11].  Đại sứ Bunker cũng trình bày báo cáo lên ông Nguyễn Văn Thiệu, lúc đó là tổng thống Nam Việt Nam, và ông Thiệu cũng đồng ý với nhận định của ông Bunker, nhưng ông Thiệu đề nghị nên hạn chế việc dùng chất màu da cam trong tương lai hay chỉ dùng ở những nơi cần thiết. 
            Năm 1969, khi Richard Nixon lên cầm quyền, trong xu hướng giảm thiểu sự có mặt của quân đội Mĩ ở Việt Nam, Chiến dịch Ranch Hand cũng giảm đến 30%.  Đến cuối năm 1969, Chiến dịch này mất 11 trong số 25 máy bay [12]. 
Trong thời gian này, Thượng nghị viện Mĩ sắp phê chuẩn Nghị quyết của Liên hiệp quốc về việc cấm dùng các vũ khí hóa học và sinh học trong chiến tranh.  Nixon cũng muốn thông qua Nghị quyết này, nhưng lí luận rằng việc Mĩ dùng chất màu da cam ở Việt Nam không nằm trong Nghị quyết của Liên hiệp quốc.  Tuy nhiên, Hội đồng khoáng đại Liên hiệp quốc không chấp nhận lí luận của Nixon, và cho rằng Chiến dịch Ranch Hand của Mĩ, theo Nghị quyết, là bất hợp pháp [13].  Nhưng dù sao đi nữa, Nixon có thêm một lí do để chấm dứt chiến dịch Ranch Hand [14].
            Mùa Thu năm 1969, một nhóm khoa học gia công bố một nghiên cứu quan trọng cho thấy chất 2,4,5-T, một thành phần hóa học của chất màu da cam, ở nồng độ cao, có khả năng gây ra dị thai hay dị dạng bẩm sinh (birth defects) và chết thai trong bụng mẹ (stillbirth) [15].  Lúc đó, các bản tin tức từ báo chí Sài Gòn cũng cho biết chất màu da cam là nguyên nhân gây ra nhiều trường hợp dị dạng bẩm sinh trong người dân.  Ngày 15 tháng 4 năm 1970, sau khi nghiên cứu này được công bố, Bộ Y tế, Giáo dục và Xã hội, Bộ Nội vụ, và Bộ Nông nghiệp Mĩ ra lệnh ngưng ngay việc dùng chất màu da cam ở Mĩ.
Tháng 4 năm 1970, Bộ quốc phòng ra lệnh tạm thời đình chỉ Chiến dịch Ranch Hand.  Nhưng nhưng trên thực tế, các thuốc khai quang khác vẫn được tiếp tục rải xuống Việt Nam.  Đến tháng 7 năm 1971 thì chiến dịch hoàn toàn chấm dứt [16].  Theo báo cáo chính thức của Chiến dịch Ranch Hand, quân đội Mĩ đã thành công phá hủy khoảng 14% diện tích rừng nam Việt Nam, kể cả 50% các rừng đước.
Vài nhận xét
            Xét qua diễn biến Chiến dịch Ranch Hand và những hậu quả của nó, người ta có thể nói cuộc chiến Việt Nam đã được giới quân sự Mĩ biến thành một bãi thí nghiệm khổng lồ cho hóa chất độc hại.  Điều đáng nói ở đây là có dấu hiệu cho thấy họ biết những hóa chất này có khả năng gây ra tác hại cho sức khỏe của người dân.  Trong một lá thư gửi cho Thượng nghị sĩ Tom Daschle, đề ngày 9 tháng 9 năm 1998, Tiến sĩ James R. Clary, thuộc cơ quan nghiên cứu vũ khí hóa học (Chemical Weapons Branch) trực thuộc Trung tâm Phát triển Vũ trang không quân (Airforce Armament Development Laboratory, Florida), viết như sau [tạm dịch]: “Lúc chúng tôi (các nhà khoa học quân đội) khởi xướng chương trình khai hoang vào thập niên 1960, chúng tôi biết tiềm năng độc hại của chất dioxin chứa trong thuốc diệt cỏ.  Chúng tôi còn biết rằng công thức mà giới quân sự dùng có nồng độ cao hơn nồng độ mà giới dân sự dùng, vì chi phí rẻ và thời gian sản xuất ngắn.  Tuy nhiên, vì hóa chất sẽ được dùng trên kẻ thù, không ai trong chúng tôi quan tâm thái quá.  Chúng tôi không bao giờ nghĩ là quân đội chúng ta lại bị nhiễm độc chất.  Và, nếu chúng tôi nghĩ đến tình huống này, chúng tôi mong muốn chính phủ chúng ta giúp đỡ các cựu chiến binh bị nhiễm độc chất.” (“When we (military scientists) initiated the herbicide program in the 1960s, we were aware of the potential for damage due to dioxin contamination in the herbicide.  We were even aware that the military formulation had a higher dioxin concentration than the civilian version due to the lower cost and speed of manufacture.  However, because the material was to be used on the enemy, none of us were overly concerned.  We never considered a scenario in which our own personnel would become contaminated with the herbicide.  And, if we had, we would have expected our own government to give assistance to veterans so contaminated.”)  Tiết lộ trên cho thấy giới quân sự Mĩ đã biết trước các hóa chất trong cuộc chiến Việt Nam là độc hại, nhưng một cách kiêu ngạo, họ cho rằng vẫn có thể dùng trên “kẻ thù”. 
Cần phải nói thêm ở đây là không những chỉ dùng các phương tiện hóa học ở Việt Nam, Mĩ còn có dự định dùng vũ khí hạt nhân trong thời chiến.  Tài liệu của Viện nghiên cứu Nautilus (Nautilus Institute, Berkeley, California) vừa mới tiết lộ (2003) cho thấy vào năm 1966, trong lúc Mĩ đang leo thang chiến tranh ở Việt Nam, Nhà năm góc (Pentagon) đã từng suy nghĩ đến việc dùng vũ khí hạt nhân tấn công Việt Nam.  Ông Freeman Dyson, cựu giáo sư vật lí tại Đại học Princeton, từng nghe các giới chức Nhà năm góc nói đến việc dùng vũ khí hạt nhân để đối phương (tức Việt Nam) phỏng đoán [16].  Không phải là người hiếu chiến và muốn ngăn chận ý đồ điên rồ của giới quân sự, sau khi nghe tin này, ông Dyson và đồng nghiệp, Robert Gomer và S. Courtenay Wright (thuộc Đại học Chicago), và Steven Weinberg (Đại học Harvard), quyết định tiến hành một nghiên cứu về những hậu quả nếu Mĩ quyết định dùng vũ khí hạt nhân ở Việt Nam.  Công trình nghiên cứu này ước đoán rằng Mĩ cần phải dùng đến 3000 vũ khí hạt nhân hàng năm để phá hủy hệ thống giao thông đường mòn Hồ Chí Minh.  Ngoài ra, nếu Mĩ quyết định như thế thì phía Việt Nam, dưới sự giúp đỡ của Liên Xô và Trung Quốc, có thể dùng vũ khí hạt nhân để phản công và hậu quả sẽ khủng khiếp cho quân đội Mĩ hơn là cho quân đội Việt Nam.  Báo cáo của các nhà vật lí được đệ trình lên Bộ quốc phòng, nhưng không ai biết ảnh hưởng của báo cáo đến chính sách của Mĩ ra sao.  Lúc đó, Robert McNamara là Bộ trưởng quốc phòng, và ông đã từng phản đối ý nghĩ dùng vũ khí hạt nhân trong cuộc chiến. 
            Trong y học, một khi một công thức thuốc được phát triển, người ta phải làm thử nghiệm về sự an toàn của thuốc trên thú vật như chuột cực kì kĩ càng trước khi đem ra dùng cho bệnh nhân.  Ngay cả thử nghiệm trên chuột, các nhà khoa học phải được phép của hội đồng y đức trước khi để tiến hành nghiên cứu.  Trong khi đó, quyết định dùng chất màu da cam chứa dioxin trong chiến tranh Việt Nam chỉ do một người quyết định (Tổng thống Kennedy) và nhận được sự ủng hộ của ông Ngô Đình Diệm.  Người dân Việt Nam hoàn toàn không biết gì đến quyết định này.  Vì thế, có thể nói rằng quyết định dùng AO ở Việt Nam là một việc làm tàn nhẫn và vô nhân đạo.  Nó thể hiện một thái độ ngạo mạn của người Mĩ coi thường mạng sống con người Việt Nam và môi trường Việt Nam.  Nhận xét đó đã được giới khoa bảng Mĩ nêu lên từ năm 1966, họ cho đó là một hành động dã man, chỉ có hại cho người lính và thường dân. 
Hiện nay, trong khi Mĩ tìm cách ngăn chận các nước khác dùng hóa chất trong chiến tranh, thì chính Mĩ lại là nước dùng những độc chất đó vào những mục tiêu phá hoại và giết người.  Lịch sử sẽ ghi nhận việc Mĩ dùng chất màu da cam và dioxin ở Việt Nam (và nhiều hóa chất độc hại khác ở vùng Vịnh, Balkans và A Phú Hãn) như là những cuộc chiến tranh hóa học đầu tiên trong lịch sử chiến tranh thế giới.

Tài liệu tham khảo và chú thích:
[1]  Royal Air Force, the Malayan Emergency, 1948-1960.  London: Ministry of Defence, June 1970, pp 113-114, 152.  Trích theo tài liệu của Tiến sĩ William A. Buckingham, Jnr “Operation Ranch Hand: Herbicides in Southeast Asia 1961-1971.”
[2]  Report, Wright Air Development Center, Wright-Patterson Air Force Base, Ohio, subject: “Engineering Study on a Large Capacity Spray System Installation for Aircraft, June 3, 1951”.
[3]  NSAM 115, subject: Defoliant Operations in Vietnam, November 30, 1961; và Message, Department of State to American Embassy in Saigon, Joint State – Defense Message Number 561, November 30, 1962.
[4]  Record, 4th SECDEF Conference, HQ CINCPAC, March 21, 1962.
[5]  Letter, W. Averell Harriman to Roswell L. Gilpatric, September 6, 1961; và Letter, Roger Hilsman to W. Averell Harriman, subject: Crop Destruction, South Vietnam, August 8, 1962.
[6]  Letter, Robert W. Kastenmeier to President John F. Kennedy, March 7, 1963.
[7]  “Scientists protest Viet Crop Destruction”, Science, 21/1/1966, trang 309.
[8]  “5000 Scientists Ask Ban on gas in Vietnam”, Washington Post, 15/2/1967, trang A-1.
[9]   Minutes of the Meeting of the AAAS Council, Washington, DC, 30/12/1966, trang 9, Letter, Don K. Price to Secretary McNamara, 13/9/1967.
[10]  Báo cáo “Assessment of Ecological Effects of Extensive or Repeated Use of Herbicides”, Midwest Research Institute, ARPA, 22, Order No. 1086, AD824314, 1/12/1967, trang 290-292.
[11]  Báo cáo American Embassy Saigon to Secretary of State, Subject: Herbicides, 191300Z Sep 68.
[12]  History, 12th SOS, October – December 1969, trang 4, 5, 7, 10.
[13]  “UN Rebuffs United States on Tear Gas Use: Vote Declares Geneva Pact Also Bans Defoliants”, New York Times, 11/12/1969.
[14]  Memo, William P. Rogers to Richard M. Nixon, subject: The Geneva Protocol, 2/2/1971.
[15]  K. Diane Courtney, D. W. Gaylor, M. D. Hogan, H. L. Falk, R. R. Bates, I. Mitchell.  Teratogenic Evaluation of 2,4,5-T.  Science 1970; 168:864-866, 15/5/1970.
[16]  Project CHECO Southeast Asia Report, Ranch Hand Hercide Operations in SEA, 13/7/1971, trang 32, 104.
[17]  Nguyên văn: “It might be a good idea to toss a nuke from time to time, just to keep the other side guessing”).  Freeman Dyson interview, January 8, 2003 (www.nautilus.org/VietnamFOIA/report/JASONs.html).

Một vài tài liệu tuyên truyền trong chiến dịch xịt chất da cam trong thời chiến




 



Thứ Năm, 16 tháng 8, 2012

Chiến dịch tiến công Bắc Tây Nguyên năm 1972: Lập thế trận và nghi binh, tác chiến hiệp đồng binh chủng


Chiến dịch tiến công Bắc Tây Nguyên năm 1972: Lập thế trận và nghi binh, tác chiến hiệp đồng binh chủng






Thực hiện quyết tâm của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương về phối hợp với các chiến trường mở cuộc tiến công chiến lược ở miền Nam, tháng 3-1972, Đảng ủy và Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên quyết định mở chiến dịch tiến công ở khu vực Bắc Tây Nguyên (gồm Kon Tum, Gia Lai). Mục đích chiến dịch là nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực quan trọng địch, giải phóng Đắc Tô-Tân Cảnh và thị xã Kon Tum, mở rộng vùng căn cứ phía tây Gia Lai, Đắc Lắc, nối liền với căn cứ địa miền Đông Nam Bộ.
Chiến dịch diễn ra rất quyết liệt từ ngày 30-3 đến 5-6-1972. Chiến dịch chia làm hai đợt. Đợt thứ nhất từ ngày 30-3 đến 24-4-1972 và đợt 2 từ ngày 25-4 đến 5-6-1972. Đây là chiến dịch thể hiện cuộc đấu trí, đấu lực căng thẳng giữa ta và địch, đặc biệt là sự sáng tạo về nghệ thuật lập thế trận và nghi binh, hiệp đồng binh chủng đánh địch của các lực lượng tham gia chiến dịch của ta.
Ban đầu, Bộ tư lệnh chiến dịch xác định phương án tiến công quân địch phòng ngự ở Đắc Tô-Tân Cảnh theo cách bóc vỏ, đánh từ ngoài vào trong. Thế nhưng sau khi nghiên cứu kỹ điều kiện địa hình, cách bố trí phòng ngự của địch, Bộ tư lệnh chiến dịch thống nhất đánh theo phương án đề xuất của Sư đoàn 2: Bí mật mở một con đường nhanh chóng đưa lực lượng và phương tiện vũ khí áp sát, bất ngờ đánh thẳng vào Đắc Tô-Tân Cảnh từ hướng đông - hướng địch bố trí phòng ngự sơ hở.
 
Đội hình xe tăng ta vận động tiến công vào Đắc Tô-Tân Cảnh năm 1972. Ảnh tư liệu.
Để tạo thế bảo đảm cho phương án đánh địch từ hướng đông, Bộ tư lệnh chiến dịch sử dụng một bộ phận lực lượng công binh mở con đường 50A theo sườn phía đông dãy Ngọc Linh để đưa lực lượng, nhất là xe tăng, pháo binh, pháo phòng không có xe kéo gấp rút vào vị trí tập kết chiến dịch. Cùng thời gian này, ta tổ chức lực lượng làm lại cầu Đắc Mót (trên đường số 18 bị địch phá), tiếp tục mở đường 70B qua dãy núi phía tây sông Pô Cô sang Võ Định.
Trong quá trình xây dựng đường và triển khai lực lượng, Bộ tư lệnh chiến dịch tổ chức một số đơn vị tập kích vào các vị trí vòng ngoài của địch ở tây sông Pô Cô, sau đó tiến vào bao vây Võ Định; đồng thời ta sử dụng 2 trung đoàn phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương đánh cắt các vị trí địch trên đường số 14 và 19, thực hiện bao vây chia cắt chiến dịch. Lợi dụng thế bố trí dài và hẹp của địch trên địa bàn rừng núi vùng bắc Tây Nguyên, ta tạo thế chia cắt buộc địch phải đối phó cả ở phía trên và dưới thị xã Kon Tum, khiến 2 lữ đoàn dù và Sư đoàn 23 Quân đội Sài Gòn bị giam chân không thể ứng cứu cho nhau. Cụm phòng ngự của Sư đoàn 22 (thiếu) của Quân đội Sài Gòn ở Đắc Tô-Tân Cảnh cũng bị cô lập. Sau khi tập trung tạo thế trực tiếp đánh vào Đắc Tô-Tân Cảnh, bộ đội ta tiến công bất ngờ vào hệ thống phòng ngự sơ hở do địch không thể ngờ tới để tiêu diệt chúng.
Điểm đặc sắc của chiến dịch là nghệ thuật nghi binh hạn chế thế mạnh của địch, phát huy thế mạnh của ta. Quyết tâm chiến dịch là: Để nghi binh không cho địch phát hiện được ý đồ của ta và để chúng vẫn xác định hướng tiến công chủ yếu vào Đắc Tô-Tân Cảnh từ đường số 18, Bộ tư lệnh chiến dịch thống nhất với Sư đoàn 2 sử dụng một số đơn vị, chủ yếu là hai trung đoàn 1 và 141 (Sư đoàn 2), tập kích vào một số vị trí địch ở vòng ngoài và tổ chức một số trận địa phòng không chi viện hỏa lực, khiến địch phải đưa quân ra đối phó. Ta tiêu diệt 2 tiểu đoàn địch ở phía tây sông Pô Cô, tạo điều kiện để tập kết bộ đội chủ lực tiến công vào mục tiêu chủ yếu. Các hoạt động nghi binh chiến dịch đã chín muồi, thời cơ đánh Đắc Tô-Tân Cảnh xuất hiện. Sau đó, ta tập trung lực lượng bí mật cơ động theo đường 50A nhanh chóng triển khai, bất ngờ tiến công Đắc Tô-Tân Cảnh.
Đây là lần đầu tiên trên chiến trường Tây Nguyên, bộ đội ta vận dụng cách đánh vây ép, buộc địch phải co cụm lực lượng, tạo điều kiện thuận lợi cho ta tiến công bằng sức mạnh hiệp đồng binh chủng cấp sư đoàn vào cụm cứ điểm Đắc Tô-Tân Cảnh. Khi nhận nhiệm vụ, Sư đoàn 2 (thiếu) được tăng cường Trung đoàn 66, Tiểu đoàn đặc công 37 cùng một đại đội xe tăng và một bộ phận pháo binh, pháo phòng không cùng lực lượng vũ trang địa phương tập trung lực lượng và vận dụng cách đánh phù hợp. Đặc biệt, ta bí mật triển khai lực lượng, trong đó bố trí cả xe tăng và pháo lớn ở nơi hiểm yếu, hướng địch không ngờ, khi nổ súng phát huy được sức mạnh tổng hợp, nhanh chóng đánh vào các mục tiêu chủ yếu, phá vỡ hoàn toàn căn cứ phòng thủ then chốt vững chắc của địch ở Đắc Tô-Tân Cảnh. Phát huy thắng lợi, cả bộ binh và xe tăng ta phát triển tiến công căn cứ Diên Bình. Từ ngày 28-4 đến 5-6-1972, bộ đội ta phát triển tiến công vào cụm phòng thủ thị xã Kon Tum, gây cho địch một số thiệt hại.
Chiến dịch tiến công Bắc Tây Nguyên đã vận dụng thành công nghệ thuật lập thế trận, điều địch ra khỏi công sự để tiêu diệt, làm giảm sức chiến đấu của chúng; đồng thời thực hành nghi binh buộc địch phải để một bộ phận lực lượng quan trọng ở trong thị xã đối phó, tạo điều kiện cho ta tập trung tiến công bằng sức mạnh hiệp đồng binh chủng tiêu diệt địch. Chiến dịch tiến công Bắc Tây Nguyên đã thực hiện được phần cơ bản của ý định chiến lược, làm thay đổi cục diện chiến trường Tây Nguyên, tạo hành lang nối thông giữa Mặt trận Trị - Thiên, Tây Nguyên với căn cứ địa miền Đông Nam Bộ, góp phần tạo thế và lực phát triển cuộc tiến công chiến lược giành thắng lợi trên chiến trường miền Nam năm 1972.
Đại tá, Tiến sĩ Dương Đình Lập

Nắm chắc thời cơ, kịp thời chuyển hướng tác chiến chiến lược


Nắm chắc thời cơ, kịp thời chuyển hướng tác chiến chiến lược








QĐND - Tháng 8-1971, Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ta ra Nghị quyết mở cuộc tiến công chiến lược năm 1972 trên các hướng: Đông Nam Bộ (hướng chủ yếu), Tây Nguyên, Trị-Thiên (hướng phối hợp quan trọng), hình thành một cuộc tiến công chiến lược trên toàn chiến trường miền Nam, nhằm tiêu diệt lớn quân địch, mở rộng vùng giải phóng, giữ vững quyền chủ động chiến lược. Bộ Chính trị chỉ rõ: Trên chiến trường miền Nam, ta sẽ đánh địch ở cả 3 vùng nông thôn đồng bằng, đô thị và miền núi; đánh bằng ba đòn tiến công chiến lược: Đòn thứ nhất của bộ đội chủ lực; đòn thứ hai của quần chúng nhân dân ở các vùng nông thôn đồng bằng quan trọng và đòn thứ ba kết hợp chặt chẽ đấu tranh quân sự, chính trị và ngoại giao.
Bộ đội Sư đoàn 390 tiến công đánh chiếm căn cứ Cam Lộ (Quảng Trị) năm 1972. Ảnh tư liệu.
Thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị, đầu năm 1972, Bộ tổng tham mưu điều động lực lượng cho các hướng tác chiến chiến lược. Đầu tháng 3-1972, các đơn vị chủ lực tham gia tiến công trên các hướng đã lần lượt bí mật vào vị trí tập kết theo kế hoạch. Miền Đông Nam Bộ gồm 3 sư đoàn, 3 trung đoàn bộ binh, một số đơn vị binh chủng của Miền và lực lượng vũ trang địa phương; Bắc Tây Nguyên gồm 2 sư đoàn, 4 trung đoàn bộ binh và một số đơn vị binh chủng; Mặt trận Trị-Thiên gồm 3 sư đoàn, 2 trung đoàn bộ binh, các đơn vị binh chủng của Bộ, Quân khu Trị-Thiên và lực lượng vũ trang địa phương.

Trên cơ sở phân tích, đánh giá tình hình địch, thực tế chiến trường và khả năng của ta, nhất là nắm bắt ý đồ, thế bố trí lực lượng của địch, Thường vụ Quân ủy Trung ương quyết định chuyển hướng tiến công phối hợp Trị-Thiên thành hướng tiến công chủ yếu, thay hướng miền Đông Nam Bộ; đồng thời, quyết định mở 3 chiến dịch tiến công quy mô lớn: Chiến dịch Trị-Thiên trên hướng chủ yếu, Chiến dịch Bắc Tây Nguyên và Chiến dịch Bắc Bình Định trên hướng phối hợp quan trọng.
Chọn Trị-Thiên làm hướng tiến công chiến lược chủ yếu là quyết định sáng suốt, nhạy bén đúng thời cơ, sát tình hình, tạo thuận lợi cho ta phát huy tối đa ưu thế trên chiến trường Trị-Thiên, bởi đây là nơi bộ đội và nhân dân có truyền thống đấu tranh kiên cường, bất khuất, tích lũy được nhiều kinh nghiệm trong Cuộc tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân (1968), Chiến dịch Đường 9-Nam Lào, lại là địa bàn liền kề hậu phương lớn miền Bắc; đồng thời, gây khó khăn cho địch ứng cứu, tăng viện vì không có lực lượng dự bị chiến lược, thiếu phòng bị… Như vậy, chọn Trị-Thiên làm hướng tiến công chiến lược chủ yếu, ta càng có điều kiện khoét sâu điểm yếu chí tử của địch. Trị-Thiên bị tiến công, sẽ là nhân tố tác động mạnh đến tinh thần, tư tưởng quân địch và làm thay đổi cục diện chiến tranh có lợi cho ta trên toàn chiến trường miền Nam. Xuất phát từ vị trí, vai trò là hướng tiến công chiến lược chủ yếu, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, nên Bộ tổng tư lệnh quyết định tổ chức Sở chỉ huy tiền phương ở Quảng Trị để trực tiếp chỉ đạo, chỉ huy chiến dịch Trị-Thiên.
Nắm chắc thời cơ, chuyển hướng tác chiến kịp thời trong cuộc tiến công chiến lược năm 1972, là nét đặc sắc của nghệ thuật chỉ đạo chiến lược của Đảng ta. Điều đó thể hiện tầm tư duy, tài thao lược của Quân ủy Trung ương trên cơ sở phân tích, đánh giá khách quan khoa học tình hình mọi mặt về ta-địch, nhất là tầm quan trọng chiến lược của chiến trường Trị-Thiên. Thực hiện kế hoạch tác chiến chiến lược đề ra, ngày 30-3-1972, bộ đội ta mở cuộc tiến công vào các tuyến phòng thủ vòng ngoài của địch ở Đường 9-Bắc Quảng Trị, Kon Tum (Tây Nguyên). Trên hướng tiến công chiến lược chủ yếu Trị-Thiên, với sức mạnh vượt trội và bảo đảm được yếu tố bí mật, bất ngờ, bộ đội ta bắn pháo mãnh liệt, dồn dập vào các căn cứ chủ yếu, các trận địa pháo của địch, tạo điều kiện thuận lợi cho bộ binh, cùng với xe tăng đột phá vào các vị trí quân địch. Chỉ trong thời gian ngắn, ta đã đập tan hệ thống công sự, vật cản ở các căn cứ, khu vực phòng ngự vòng ngoài của địch. Trị-Thiên bị đánh bất ngờ, Mỹ và quân đội Sài Gòn vội vàng tung toàn bộ lực lượng dự bị chiến lược và điều quân ở các chiến trường khác về ứng cứu. Đây là thời cơ thuận lợi cho Chiến dịch Bắc Tây Nguyên, Chiến dịch Bắc Bình Định đẩy mạnh hoạt động tác chiến mở vùng, mở mảng. Theo đó, cả 3 chiến dịch trong cuộc tiến công chiến lược đã phối hợp nhịp nhàng, làm chủ hoàn toàn, buộc địch phải hành động theo ý định của ta.
Cùng với đòn tiến công trên mặt trận Trị-Thiên, Bắc Tây Nguyên, Bắc Bình Định, bộ đội ta mở cuộc tiến công ở các mặt trận Đông Nam Bộ, Đồng bằng sông Cửu Long. Cuộc tiến công chiến lược của ta đã làm cho Mỹ-chính quyền Sài Gòn hoàn toàn bất ngờ cả về chiến lược, chiến dịch và chiến thuật, buộc địch phải phân tán lực lượng, thụ động đối phó và chịu những thiệt hại nặng nề. Đến giữa năm 1972, cuộc tiến công chiến lược của ta đã giành thắng lợi to lớn, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, giải phóng một vùng đất đai rộng lớn, tạo nên bước chuyển biến nhanh chóng về cục diện chiến trường, làm thay đổi tương quan so sánh lực lượng có lợi cho ta. Thắng lợi này đã mở ra một thế mới cho mặt trận đấu tranh ngoại giao của ta trên trường quốc tế, tạo thuận lợi cho ta phát triển thế tiến công quân sự trong những tháng cuối năm 1972 ở cả hai miền Nam-Bắc, giành thêm những thắng lợi quyết định.
Đại tá, TS Dương Đình Lập






Lộc Ninh sau 38 năm giải phóng


Lộc Ninh sau 38 năm giải phóng


Lộc Ninh là vùng đất giàu truyền thống cách mạng, địa đầu biên giới của tỉnh Bình Phước. Nơi đây đã trải qua những thời kỳ đấu tranh khốc liệt chống Pháp và Mỹ; đồng thời cũng là nơi diễn ra những trận chiến đấu ác liệt của quân dân ta nhằm bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ và an ninh Tổ quốc. Lộc Ninh được giải phóng ngày 7-4-1972, trở thành thủ đô của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, nơi diễn ra hội nghị 4 bên và trao trả tù binh chiến tranh năm 1973. Phát huy truyền thống địa phương Anh hùng LLVT trong kháng chiến, sau 38 năm giải phóng, Lộc Ninh đã đạt được nhiều thành tựu trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc rất đáng trân trọng.



Từ một chiến trường trọng điểm, khốc liệt sau năm 1972, Lộc Ninh đã trở thành thủ phủ của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam; căn cứ Bộ Chỉ huy Quân ủy Miền; đoạn cuối của tuyến đường Hồ Chí Minh, một trong những nơi quan trọng nối liền huyết mạch hậu phương miền Bắc với chiến trường miền Nam; nơi đặt Trụ sở Chỉ huy cơ bản Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Và cũng chính nơi đây đã chứng kiến giờ phút xúc động đón những người con ưu tú của Tổ quốc từ ngục tù Côn Đảo, Phú Quốc... gan dạ kiên cường bất khuất chiến thắng trước nanh vuốt của kẻ thù trở về.
Phát huy truyền thống anh hùng, bằng sự bươn chải, lam lũ, năng động và tự lực tự cường vốn có trong quá khứ, cộng với sự giúp đỡ có hiệu quả của cấp trên và bạn bè. Đặc biệt là sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng bộ và điều hành chặt chẽ sáng tạo của cả hệ thống Nhà nước; quá trình vận động và tổ chức thực hiện của Mặt trận và các tổ chức đoàn thể nhân dân, Lộc Ninh đã đi lên trở thành một huyện miền núi biên giới của tỉnh Bình Phước phát triển về mọi mặt.
Đời sống của đồng bào các dân tộc trong huyện từng bước ổn định và phát triển. Nhiều năm liền huyện đều đạt và vượt chỉ tiêu kinh tế - xã hội và giữ được trong nhiều năm mức tăng trưởng GDP bình quân từ 13,5% – 14%. Năm 2008 mặc dù gặp nhiều khó khăn do lạm phát song thu nhập bình quân đầu người đạt 9.500.000 đồng/người/ năm.
Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được quan tâm đầu tư phục vụ đắc lực cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng – an ninh. Sự nghiệp giáo dục; y tế, văn hóa, xã hội chuyển biến nhanh và vững chắc, đáp ứng khá tốt những nhu cầu thiết yếu của nhân dân. Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống mới khu dân cư, kết hợp việc phát huy dân chủ ở cơ sở đã được phát động ngày càng đi vào đời sống của mỗi người dân, góp phần lành mạnh hóa đời sống xã hội nông thôn huyện biên giới. An ninh chính trị trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Hệ thống chính trị không ngừng được củng cố ngày càng hoạt động có hiệu quả cao.
Ba mươi tám năm phấn đấu, Lộc Ninh đã trải qua nhiều thử thách nhưng đã không ngừng lớn mạnh và có bước đi vững chắc. Có được thành tích đó là nhờ sự nỗ lực chung của hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân trong huyện. Song khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng có ý nghĩa quyết định. Đảng bộ Lộc Ninh đã vận dụng các nghị quyết của Đảng vào thực tế của địa phương. Ở từng thời kỳ đều có sự sáng tạo, biểu hiện ở những quyết sách về phát triển kinh tế - xã hội phù hợp với đặc điểm, thế mạnh và nguồn lực của mình, do đó các chủ trương đưa ra đều được sự đồng tình, ủng hộ của các tầng lớp nhân dân.
Nhằm phát huy thế mạnh của địa phương, trong những năm qua huyện luôn chú trọng và tập trung chuyển đổi cơ cấu cây trồng, ưu tiên các loại cây có giá trị kinh tế cao. Nhờ đó thu nhập của nhân dân tăng nhanh, góp phần xóa đói giảm nghèo, toàn huyện hiện còn 1.519 hộ nghèo, chiếm 5,66% dân số toàn huyện. Qua 5 năm thực hiện Nghị quyết số 16 của Huyện ủy về vận động xây dựng quỹ “Vì mái ấm người nghèo”, huyện đã xây dựng được 775 căn nhà tình thương cho các đối tượng khó khăn về nhà ở, trị giá mỗi căn 9 triệu đồng.
Nhân kỷ niệm 37 năm ngày giải phóng Lộc Ninh (7-4-1972 – 7-4-2009), Đảng bộ và nhân dân Lộc Ninh đã đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, khai thác mọi tiềm năng thế mạnh của mình, thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2009 và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2006 –2010. Đưa tốc độ tăng trưởng kinh tế tăng từ 13,5% – 14%; bằng các giải pháp hữu hiệu giảm hộ nghèo xuống còn 5% – 5,5% vào cuối năm 2009, tiếp tục nâng cao đời sống nhân dân, góp phần xây dựng quê hương Lộc Ninh ngày càng giàu về kinh tế, vững về chính trị, mạnh về quốc - phòng an ninh.
Ngô Hiền - Võ Lượng

TÀ THIẾT-NƠI ÂM VANG CHIẾN DỊCH MANG TÊN NGƯỜI


TÀ THIẾT-NƠI ÂM VANG CHIẾN DỊCH MANG TÊN NGƯỜI


Căn cứ Tà Thiết không chỉ làm nhiệm vụ bảo vệ và phát triển các hoạt động của Bộ Chỉ huy Miền, một căn cứ dự trữ hậu cần chiến lược, mà còn là căn cứ cơ bản của Bộ Chỉ huy chiến dịch giải phóng Sài Gòn, góp phần quan trọng làm nên thắng lợi vẻ vang của Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.
Theo quốc lộ 13, cách thành phố Hồ Chí Minh khoảng 130 ki-lô-mét, cách trung tâm thị trấn Lộc Ninh 17 ki lô mét là địa danh Tà Thiết - Kroom nằm trên địa bàn xã Lộc Thành. Ngày trước, người dân trong vùng quen gọi nơi này là “rừng chính phủ” - chính là căn cứ của Quân ủy và Bộ Tư lệnh các lực lượng giải phóng miền Nam Việt Nam và Bộ chỉ huy Chiến dịch Hồ Chí Minh, thường gọi là Căn cứ Tà Thiết.

Tiền thân nơi đây là sở Chỉ huy tiền phương của chiến dịch Nguyễn Huệ năm 1972. Ngày 7/4/1972, Lộc Ninh (Bình Phước) là huyện đầu tiên của miền Nam được giải phóng, Trung ương Cục và Bộ Tư lệnh miền quyết định dời căn cứ Quân ủy Miền từ Sóc Con Trăng (Tây Ninh) về đóng tại Tà Thiết. Lý do là: so với vùng Bắc Tây Ninh, khí hậu ở đây ít khắc nghiệt hơn, có thế rừng giải phóng rộng lớn; đặc biệt, Lộc Ninh là điểm cuối cùng của đường mòn Hồ Chí Minh nên có điều kiện để nắm bắt nhanh mọi diễn biến về chính trị, quân sự và rất thuận lợi cho sự chỉ đạo, lãnh đạo và tiếp nhận vũ khí, lương thực, thực phẩm phục vụ cho chiến trường miền Nam. Việc chọn Tà Thiết cũng gây bất ngờ đối với địch, vì lâu nay, các căn cứ của Bộ Chỉ huy Miền thường đóng ở rừng sâu, nay chuyển dịch ra ở một khu vực có dân, có rẫy. Đầu tháng 3-1973, căn cứ Tà Thiết bắt đầu được xây dựng và được xác định đây là căn cứ cuối cùng của cách mạng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Cuối tháng 1 - 1973, các đơn vị công binh của Miền bát đầu mở các con đường mới cho 3 cục tham mưu, chính trị, hậu cần (Bộ chỉ huy Miền) di chuyển về căn cứ Tà Thiết. Ngày 8-2-1973, các con đường ở đây đã nhanh chóng được hoàn tất. Cuối quý 1 năm 1973, tất cả các cơ quan trong Bộ Chỉ huy Miền và các đơn vị trực thuộc đã ổn định xong nới ăn, ở. Tại đây, dưới những tán cây lớn, xung quanh là những rừng le đan chằng chịt là những công trình nhà làm việc của các đồng chí chỉ huy cao cấp trong Bộ Tư lệnh miền: Tư lệnh Trần Văn Trà, phó Tư lệnh Nguyễn Thị Định, Chính ủy Phạm Hùng, phó Tư lệnh kiêm tham mưu trưởng Lê Đức Anh…riêng nhà ở và làm việc của thượng tướng Nguyễn Văn Trà lại được dựng ngoài một trảng trống theo kiến trúc nhà sàn của đồng bào dân tộc Khơ-me nằm đan xen giữa hơn mười nóc nhà của đồng bào để đánh lạc hướng địch. Cùng với nhà ở và làm việc là hệ thống các công trình phục vụ khác như bếp Hoàng Cầm, nhà Chính ủy, hầm giao ban, hội trường... tất cả đều được xây dựng theo lối nhà bán âm (nửa chìm nửa nổi) để về đêm hạn chế ánh sáng đèn phát ra ngoài; bên trên được lợp bằng lá trung quân để tránh bị máy bay địch phát hiện, bốn xung quanh mỗi công trình đều có hệ thống giao thông hào để thoát hiểm. Các hầm trú ẩn thường được làm kế cận nhà, chìm vào lòng đất, trên đặt mái bằng. Những hầm đặc biệt như hầm chỉ huy, hầm thông tin, hầm quân y… thường được làm khá rộng để tiện hoạt động, phòng khi trên mặt đất không an toàn.. Giao thông hào chỉ dành cho một số hầm đặc biệt nói trên, không phổ biến toàn căn cứ. Các hạng mục cách nhau từ 50 đến 200 mét.

Ngày 20-7-1974, tại Hội nghị quân chính Miền ở căn cứ Tà Thiết, đồng chí Phạm Hùng, Bí thư Trung ương cục miền Nam thay mặt Trung ương Đảng tuyên bố Quyết định thành lập quân đoàn 4, gồm 2 sư đoàn bộ binh 7 và 9, các trung đoàn 24 pháo binh, 71 phòng không, 429 đặc công và 3 tiểu đoàn thông tin. Đồng chí Hoàng Cầm được bổ nhiệm Tư lệnh quân đoàn 4. Đây là sự kiện quan trọng làm nức lòng cán bộ, chiến sĩ vì nó đánh dấu bước trưởng thành mới của chủ lực Miền. Nhưng căn cứ Tà Thiết sau đó còn mang những sự kiện lịch sử đặc biệt hơn. Thứ nhất, đây là nơi từng diễn ra các cuộc hội họp và tiếp các phái đoàn cao cấp của Bộ Chính trị, Bộ trưởng tham mưu - Trung ương Cục miền Nam. Thứ hai, đặc biệt hơn, cũng tại hội trường này, ngày 8-4-1975, đồng chí Lê Đức Thọ thay mặt Bộ Chính trị phổ biến Nghị quyết 7 của Trung ương Đảng về việc thành lập Bộ chỉ huy Chiến dịch giải phóng Sài Gòn - Gia Định. Thứ ba, để có một tên gọi xứng tầm với một chiến dịch lớn nhất và có ý nghĩa nhất kết thúc cuộc chiến tranh trường kỳ 21 năm chống Mỹ, Bộ Chỉ huy chiến dịch đề nghị Trung ương đặt tên cho chiến dịch giải phóng Sài Gòn. Đáp ứng nguyện vọng đó, Bộ Chính trị đồng ý đổi tên chiến dịch giải phóng Sài Gòn - Gia Định thành chiến dịch mang tên Bác - chiến dịch Hồ Chí Minh, bằng bức điện 37 TK do Tổng Bí thư Lê Duẩn ký. Bức điện lịch sử đó đã được phổ biến cũng tại Hội trường này.

Như vậy, Căn cứ Tà Thiết đã làm tròn nhiệm vụ lịch sử là căn cứ cuối cùng của Quân ủy và Bộ Chỉ huy Miền; không chỉ làm nhiệm vụ bảo vệ và phát triển các hoạt động của Bộ Chỉ huy Miền, một căn cứ dự trữ hậu cần chiến lược, mà còn là căn cứ cơ bản của Bộ Chỉ huy chiến dịch giải phóng Sài Gòn, góp phần quan trọng làm nên thắng lợi vẻ vang của Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Những bài học kinh nghiệm được rút ra từ quá trình hình thành và phát triển của các căn cứ của Bộ Chỉ huy Miền trong cuộc chiến tranh chống Mỹ là một đóng góp thiết thực vào kho tàng tri thức quân sự của ông cha ta và của quân đội ta trong quá trình giữ nước.

Khu di tích lịch sử này có địa bàn rộng, bằng phẳng, không gian yên tĩnh, không khí trong lành. Đến đây, chúng ta không chỉ được tận mắt chứng kiến những hình ảnh, hiện vật, tư liệu sinh động, mà còn được thưởng thức những món ăn mang tính đặc trưng của miền rừng núi và của thời kỳ kháng chiến: cơm nắm muối vừng, canh thục cơm lam, canh chua lá giang, măng rừng đọt mây, khoai mỳ nướng lùi; và có dịp sẽ được thưởng thức những giai điệu cồng chiêng, các làn điệu dân ca và giao lưu các hoạt động văn hóa với dân tộc bản địa như múa lâm thôn, múa xoan… Trên địa bàn Lộc Ninh, ngoài căn cứ Tà Thiết lịch sử, còn có trụ sở của Chính phủ cách mạng Lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam, nơi từng diễn ra các cuộc họp của Ban liên hợp quân sự 4 bên để bàn về các điều khoản đã được ký kết trong Hiệp định Pari năm 1973; Nhà Giao tế Lộc Ninh, trụ sở Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam, sân bay quân sự Lộc Ninh - nơi diễn ra các cuộc trao trả tù binh năm 1973; ngã ba liên ngành (ngã ba Lộc Tấn) với các tổng kho nhiên liệu VK 99, VK 98 ở Lộc Hòa, Lộc Quang, khu di tích trưng bày đoạn cuối đường mòn Hồ Chí Minh v.v...

Ở Bình Phước đã có 9 di tích lịch sử được công nhận cấp quốc gia, riêng huyện Lộc Ninh - điểm cuối của hệ thống đường mòn Hồ Chí Minh,- đã có tới 5 di tích./.

Trần Văn Lượng (Theo Báo Đẳng Cộng Sản Việt Nam)