Thứ Tư, 27 tháng 6, 2012

Một góc nhìn mới về sự tàn bạo và sai lầm của người Mỹ trong chiến tranh Việt Nam

Một góc nhìn mới về sự tàn bạo và sai lầm của người Mỹ trong chiến tranh Việt Nam

Không chỉ độc đáo bởi phương pháp giảng dạy lịch sử Việt Nam rất thực tế bằng cách phối hợp với Trung tâm Việt Nam, nơi lưu giữ bản gốc Nhật ký Đặng Thùy Trâm, tổ chức đưa sinh viên tham quan, nghiên cứu tại Việt Nam hằng năm, Giáo sư sử học Ron Milam - Đại học Công nghệ Texas còn là người có những kiến giải mới lạ về sự tàn bạo và thất bại của người Mỹ trong chiến tranh Việt Nam...
Tác phẩm “NOT A GENTLEMAN'S WAR: AN INSIDE VIEW OF JUNIOR OFFICERS IN THE VIETNAM WAR" (tạm dịch: Cuộc chiến tranh không phải của các quý ông: Một cái nhìn trong cuộc của chỉ huy cấp úy trong chiến tranh Việt Nam") của ông là một trong số ít công trình nghiên cứu đầu tiên về chiến tranh Việt Nam từ những góc nhìn của "tầng lớp dưới đáy", bao gồm các chỉ huy trung đội, mang quân hàm thiếu úy, trung úy tham chiến ở Việt Nam. Từng là một cựu binh ở chiến trường Pleiku từ 1971-1972, Ron Milam đã chỉ ra những nguyên nhân không chỉ làm cho người Mỹ bị thất bại cay đắng ở Việt Nam mà còn tạo ra những hành động bạo tàn như cuộc thảm sát Mỹ Lai - Sơn Mỹ năm 1968. Nói như Larry Berman, tác giả của "Điệp viên hoàn hảo", người đọc sẽ biết được rất nhiều điều mới mẻ qua từng trang sách tuyệt vời của Giáo sư Ron Milam. ANTG CT xin giới thiệu với bạn đọc cuộc trò chuyện giữa nhà thơ Văn Cầm Hải (VCH) với Giáo sư Ron Milam và một trích đoạn từ tác phẩm của ông.
VCH: Hơn 30 năm trước, Giáo sư là một sỹ quan cấp úy của quân đội Hoa Kỳ phục vụ ở chiến trường Nam Việt Nam, và bây giờ là một học giả về lịch sử chiến tranh Việt Nam. Dựa vào sự trải nghiệm bản thân và việc nghiên cứu, Giáo sư nhìn nhận cuộc chiến tranh Việt Nam như thế nào và Giáo sư giảng dạy về nó như thế nào?
Ron Milam: Cuộc chiến tranh Việt Nam là một bi kịch cho người Mỹ. Người Mỹ đã vạch ra một "đường giới tuyến trên cát" để chống lại chủ nghĩa cộng sản bởi vì chúng tôi sợ hệ tư tưởng cộng sản sẽ thống trị thế giới. Chiến tranh lạnh đã làm nên một căn bệnh đa nghi. Tôi dạy cho sinh viên Mỹ hiểu rằng, sự thiếu sót trong việc hiểu biết lịch sử văn hóa của đất nước Việt Nam đã làm cho chúng tôi nghĩ rằng chúng tôi sẽ chiến thắng trong cuộc chiến này với một nỗ lực tối thiểu mà thôi. Điều đó đã tạo nên một sự gắng sức mà người Mỹ sẽ không phải chịu đựng để thành công.
VCH: Tại sao Giáo sư lại gọi cuộc chiến tranh Việt Nam là không phải cuộc chiến của quý ông. Sự khác nhau giữa cuộc chiến của những quý ông và cuộc chiến không dành cho quý ông là gì?
Ron Milam: Cuộc chiến này đã chọn phương thức chiến đấu theo kiểu "chiến tranh hao mòn", trọng tâm là tiêu diệt lực lượng hơn là kiểm soát địa lý. Vì vậy có rất nhiều thảm kịch thương vong cho cả hai bên, thường là do bom đạn và pháo kích. Nước Mỹ không công bằng khi tuyển quân, vì thế hầu hết những người thuộc tầng lớp nghèo hoặc lao động đã tham gia chiến trận. Chỉ có một bộ phận rất nhỏ những người lính thực sự tham gia chiến trường, đó là những người không sống trong cảnh xa hoa ở những căn cứ sư đoàn. Vì những nguyên nhân này nên chiến tranh Việt Nam này không phải là cuộc chiến tranh của những quý ông như chiến tranh thế giới thứ II.
VCH: Trong tác phẩm của mình, Giáo sư phân tích rằng trận đánh Ya Drang để lại nhiều bài học cho cả quân đội Mỹ và đối phương. Tại sao nước Mỹ không áp dụng chiến lược "chiến thắng con tim và khối óc" thay cho “lùng và diệt", "vùng bắn phá tự do" và "đếm xác tại trận?"
Ron Milam: Các nhà lãnh đạo quân đội và cả dân sự đều không nhận thấy rằng chiến thắng của họ tại trận Ya Drang là vì sự gắn kết các đơn vị được huấn luyện hơn là vì ưu thế của kỹ thuật. Họ cho rằng, pháo binh, bom đạn và sức mạnh hỏa lực có thể chiếm thế thượng phong hơn là yếu tố chỉ huy và chiến thuật. Những chỉ huy Mỹ trực tiếp tham gia chiến trường Ya Drang đã cho thấy rằng kỹ thuật không phải là nguyên nhân khiến họ trở thành những người thành công. Các nhà lãnh đạo nước Mỹ từ chối chiến lược "chiến thắng con tim và khối óc" bởi vì họ không nhận thấy được rằng để đánh bại phong trào nổi dậy được dẫn dắt bởi Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, họ và đồng minh Việt Nam Cộng hòa của họ phải chứng minh với những người dân rằng họ tốt hơn những người cộng sản(?!)…
VCH: Và điều đó họ không thể làm được vì sự thực không phải là như thế… Cuốn sách của Giáo sư tập trung vào vai trò và trách nhiệm của những trung đội trưởng, những chỉ huy cấp thấp với quân hàm thiếu úy, trung úy. Phải chăng ý Giáo sư muốn nói rằng những người chỉ huy cấp úy này có trách nhiệm hơn cả những sỹ quan cao cấp?
Ron Milam: Những chỉ huy cấp úy là những người chịu trách nhiệm lớn nhất trên chiến trường, bởi vì họ thường là những người tham chiến trực tiếp. Họ là những người làm nên thành công hay chịu trách nhiệm trước thất bại, thực thi những hành vi đạo đức hay bạo tàn. Họ thực sự là nhân vật chủ chốt trong chiến tranh. Vì họ chia sẻ mọi hậu quả, vinh quang và cả nỗi ô nhục như Trung úy Calley nếu họ không hành động có trách nhiệm. Vâng, họ là những người lính được huấn luyện tạo nên cái sống và cái chết trong từng phút giây trên chiến trường. Vì vậy bất cứ điều gì xảy ra, họ đều phải gánh lấy lỗi lầm hoặc tạo nên uy tín cho họ. Hầu hết các học giả sử học về chiến tranh Việt Nam đều xem họ như là những người chiến đấu không có lý tưởng. Họ chỉ là những người chăm lo mạng sống cho mình hơn là lao vào hoàn thành nhiệm vụ. Thái độ này được chứng minh từ hành động tội ác của Trung úy Calley ở Mỹ Lai.
VCH: Bằng việc tổ chức các đoàn sinh viên có những chuyến đi nghiên cứu và giao lưu văn hóa hằng năm tại Việt Nam, Giáo sư muốn chuyển tải thông điệp gì đến sinh viên - những nhà sử học tương lai của nước Mỹ?
Ron Milam: Tôi muốn sinh viên của tôi biết rằng, những người lính Việt Nam đã chiến đấu vì đất nước của mình. Và người lính thường chiến đấu rất giỏi để phụng sự dân tộc của mình một cách xứng đáng. Tôi muốn sinh viên của tôi biết về một đất nước Việt Nam tươi đẹp và hiểu rõ giá trị con người và văn hóa của Việt Nam. Tôi rất hạnh phúc khi ngày hôm nay hai dân tộc chúng ta đã trở thành bạn bè chứ không còn là kẻ thù.

Người khai sinh ra thuật ngữ  "Lùng và diệt" (search-and-destroy)  là tướng William DePuy, Phó tư lệnh Bộ chỉ huy viện trợ quân sự Mỹ tại miền Nam Việt Nam (MACV), nhằm mô tả nhiệm vụ trọng tâm của các đơn vị bộ binh là: tìm kiếm và tiêu diệt đối phương ngay tại chỗ. Tuy nhiên, ít nhất là trong dư luận nói chung, thuật ngữ này đồng nghĩa với thiêu hủy làng xóm và gây ra thương vong cho thường dân. Tướng Westmoreland xem nó như một trong 3 chiến thuật làm nên chiến lược tổng thể của quân đội: "Dọn sạch": tiêu diệt hoặc nhổ hết lực lượng du kích và các lực lượng quân sự khác ra khỏi vùng đất mà họ từng kiểm soát để cho các cơ quan dân sự có thể bắt đầu thực thi sứ mạng của mình; "An ninh", bao gồm giữ vững những vùng đã được "dọn sạch" bằng cách tuần tra và xóa bỏ các cơ sở hoạt động chính trị bí mật. Và cuối cùng chính là "Lùng và diệt" đối phương.
Sau khi chiến thuật thứ hai được thừa nhận như là một sự thất bại, nhiệm vụ "lùng và diệt" càng được chỉ đạo một cách có hiệu quả hơn trong các vùng bắn phá tự do (free-fire zones) bởi vì hỏa lực của pháo binh và không quân rất dễ dàng thực hiện. Tuy nhiên, sự tranh cãi xoay quanh chiến thuật "lùng và diệt" đã gia tăng khi sự đánh giá mức độ thành công thường được khẳng định bằng một hoạt động tàn bạo: đếm xác tại trận (body count).

Khái niệm này bắt nguồn từ đâu? Không phải từ chiến tranh Triều Tiên, cũng không phải ra đời từ chiến tranh thế giới thứ II như là một kiểu đo lường sự chiến thắng bằng cách đếm quân số đối phương bị tiêu diệt. Đối với hàng ngũ sỹ quan cấp trung đội, những người chỉ huy chịu trách nhiệm đầu tiên trong việc báo cáo số lượng người chết của binh sỹ đối phương và cả đồng đội trên chiến trường, sự nhấn mạnh vào nhiệm vụ này đã ảnh hưởng đến những cách thức mà họ thực hiện các hoạt động hành quân của mình.
Tướng Westmoreland không tín nhiệm cũng như không đổ lỗi cho cái gọi là "đếm xác tại trận" nhưng ông ta biết việc chúi mũi vào những con số thống kê không ngừng của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng McNamara sẽ làm cho các cấp chỉ huy quân đội tận tâm hoàn toàn vào nhiệm vụ không ngừng tiêu diệt quân địch. Do vậy, tại hội nghị ở Honolulu vào tháng 2/1966, bản thuyết trình những mục tiêu thống kê 1966-1967 của Alain Enthoven, trợ lý Bộ trưởng Bộ Quốc phòng về phân tích hệ thống đã được các nhân vật chủ chốt trong nội các của chính quyền Johnson chấp thuận, bao gồm cả tướng Westmoreland. Ông ta tuyên bố: "Quân lực của chúng ta phải tiêu diệt đối phương ở mức độ ít nhất cũng phải cao bằng với khả năng mà quân địch đưa thêm người của họ ra chiến trường".
Chính quyền Hoa Kỳ đã tuyên bố mục tiêu của cuộc chiến tranh hao mòn: Hoa Kỳ sẽ chiến thắng khi số quân bị tiêu diệt và bị thương nặng vượt trội số quân chính quy miền Bắc Việt Nam và Việt Cộng (VC). Westmoreland, mặc dù dễ dàng đổ lỗi cho văn phòng của Enthoven về việc quá tập trung vào điều tra quân số tử vong của đối phương nhưng chính ông ta là người thúc đẩy ý niệm về một chiến tranh hao mòn. (A war of attrition).
Mục tiêu tiêu diệt đối phương càng nhiều càng tốt đã vi phạm đến điều mà nhà quân sự Tôn Tử cấm kỵ trong Binh pháp Tôn Tử, rằng "Trong mọi cuộc chiến, chính sách giữ nguyên vẹn là tốt nhất, làm hỏng mọi thứ là hạ sách. Đừng quá chú trọng vào việc tiêu diệt. Bắt được quân địch tốt hơn là giết họ". Tuy nhiên, Bộ Quốc phòng Mỹ đã chấp thuận việc tiêu diệt quân địch là mục tiêu tiên quyết. Cá nhân người lính rốt cuộc chấp nhận ý niệm này một cách tự nhiên, vì thế cho nên đã tạo ra những thách thức đối với các sỹ quan cấp úy bộ binh. Với hỏa lực sẵn có ở các cấp độ nên nó thường bị lạm dụng  trong quá trình thực hiện. Cho dù Westmoreland cuối cùng cũng tuyên bố rằng, ông ta ghê tởm thuật ngữ  "đếm xác tại trận" nhưng rồi nó đã trở thành một thành ngữ để giải thích tại sao những người lính chiến có mặt ở miền đất Việt Nam. 
Tác động của việc "đếm xác tại trận" đã trở thành một sức ép then chốt đánh giá khả năng hành động chiến đấu của người lính. Khi cấp trên hỏi về số quân bị tiêu diệt của đối phương, các chỉ huy trung đội thường trả lời mà không chứng thực số lượng người bị giết. Khi các sở chỉ huy bắt đầu yêu cầu số liệu chính xác, một số người lính đã cắt tai người chết để chứng minh cho cái chết của kẻ thù hoặc chụp những bức ảnh để minh chứng cho sự chiến thắng. Cuối cùng, việc đếm xác được thổi phồng ở mức độ cao nhất sau những trận chiến lớn, nơi có những số lượng thương vong được kiểm kê dễ dàng.
Là một người chỉ huy từng đếm số lượng thương vong rất chi tiết tại vòng vây chiến trường Phú Nhơn, trong ngày 15 và 16/3/1971, nhóm cố vấn cơ động của tôi đã đếm được hơn 100 lính đối phương bị thương vong. Tuy nhiên, một đơn vị pháo binh Mỹ - khẩu đội 92, Tiểu đoàn 1 pháo binh đóng ở gần đấy đã báo cáo có 387 quân địch bị chết, trong đó có 178 người bị chết bởi hỏa lực của trọng pháo! Báo cáo đó dĩ nhiên được chuyển qua nhiều kênh để đến với Lầu Năm Góc nơi nó sẽ trở thành một phần trong tổng thể con số thống kê quân lính đối phương bị thương vong ở chiến trường Việt Nam. Những con số này là sự bịa đặt hoàn toàn về một trong những trận chiến dữ dội nhất vào thời điểm cuối của cuộc chiến. Tôi biết chính xác rằng có bao nhiêu xác người được tìm và thậm chí có một số được thừa nhận bị chết bởi súng máy cobra, naplam, và hỏa lực pháo binh đã được gọi đến trong vùng vị trí của chính chúng tôi. 387 kẻ thù bị chết chỉ là một "sự suy luận".



Sự phản ứng của Bộ chỉ huy viện trợ quân sự Mỹ tại Việt Nam (MACV) đối với tính mạng của thường dân là xây dựng những luật lệ giao chiến được thiết kế để bảo vệ người dân ở trong vùng đang được tìm kiếm kẻ thù trước khi phá hủy nó. Điều này được chỉ dẫn rõ trong "Sổ tay hướng dẫn về việc hỗ trợ quân sự đối với công cuộc bình định" của MACV, việc bảo dưỡng phải được thực thi khi đưa những vùng đó trở lại với trật tự quản lý bình thường của nhà nước và tu sửa nó như là một nơi không có bằng chứng hiện hữu của kẻ thù đã được tìm thấy. Tuy nhiên, các trung đội trưởng đã gặp những khó khăn khi chỉ huy những người lính hoảng sợ và phấn khích đi vào những làng bị nghi là VC hoặc cảm tình với VC.
Cách thức tốt nhất để tránh gây thương vong cho dân thường, MACV khuyến cáo, là tránh để thường dân chạm mặt với quân Mỹ bất kỳ nơi đâu có thể. Sự đáp trả của các vị chỉ huy quân sự đối với trường hợp này là tạo ra một vùng bắn phá tự do. Nếu như thường dân đang mắc kẹt trong vùng chiến sự, họ sẽ được thông báo phải dời đi. Quân đội Mỹ thậm chí di chuyển cả súc vật và những đồ đạc nghèo nàn của người dân. Cơ quan Phát triển quốc tế Hoa Kỳ sẽ giúp họ xây dựng nhà mới trên vùng đất an ninh hơn được xác định bởi MACV mà không hề quan tâm đến việc chỗ ở mới có xa rời nơi chôn nhau cắt rốn và mồ mả tổ tiên của dân làng hay không.
Mỗi lần người dân di chuyển chỗ ở, quân Mỹ có thể mặc sức bắn phá với hỏa lực ồ ạt bất chấp tính mạng của cư dân- những người từng được khuyến cáo là phải di chuyển nhưng vẫn còn ở lại thì họ mặc nhiên bị xem là VC. Khi một vùng bắn phá tự do được tạo ra là các cấp chỉ huy ở tiền phương lại phớt lờ những luật lệ bắt buộc của MACV. Westmoreland thậm chí tin rằng, khi điều luật rất quan trọng nhưng không thể bắt các chỉ huy gắn liền với nó, sự buông lỏng như vậy có thể làm tăng thêm hiệu quả hỏa lực của người Mỹ.
Bằng việc chỉ định ra những vùng bắn phá tự do, bất kỳ người dân nào được tìm thấy trong vùng đều bị cho là VC hay ít nhất cũng bị tra vấn.
"Một nhóm tuần tra tập trung xung quanh túp lều giữa vườn chuối. Đại đội thận trọng tiếp cận vào nơi chốn hôi hám mục nát này. Khi chúng tôi đến gần, một người đàn ông ốm yếu đã bị phát hiện là đang cố gắng thoát lên đồi phía sau túp lều của ông ta. Không mặc áo quần gì cả ngoài cái khố, đi chân trần. Vài người lính nhặt lấy người đàn ông. Ông ta không có khả năng làm tổn thương ai cả. Da bọc xương. Đây là kẻ thù của người Mỹ ư? Giả sử người đàn ông được mang về Pleiku, nơi đó ông ta sẽ được nhận sự quan tâm y tế.  Nhưng luật là luật. Chúng tôi đốt nhà ông ta, phá hủy ngôi vườn của ông ta. Một tiếng đồng hồ sau, người đàn ông dân tộc này bị chết. Trái tim của ông ta không chịu nổi những sức ép" .
Những cuộc chạm trán như thế này diễn ra rất thường xuyên khi nhiều người dân từ chối rời khỏi làng, đặc biệt là người Jarai, Hmong, Bahnar, và bộ lạc Rhade là những người Thượng có đời sống gắn liền với vùng cao nguyên trung phần miền Nam Việt Nam. Để giành chiến thắng "trái tim và khối óc" của người dân, như là mục tiêu bề ngoài của quân đội, là rất khó khăn nếu những dân làng liên tục bị tra xét, lùa lên trực thăng hung tợn, mang họ đến những thành phố rộng lớn phục vụ cho khai thác tin tức tình báo.
Các đơn vị quân đội tiếp tục mở ra các cuộc hành quân kiên định với cái kiểu thổi phồng đếm xác tại trận để đạt được những điều bỉ ổi đỉnh điểm. Khi việc đếm xác tăng lên, luật lệ giao chiến cũng đổi thay phù hợp với việc sử dụng nhiều hơn hỏa lực chết chóc. Những đơn vị bộ binh được gửi đến đến "dọn sạch" và đếm xác sau khi pháo đài bay B-52 rải thảm. Các cấp chỉ huy cố gắng kiềm chế trật tự quân sự trong phạm vi trung đội của họ vốn đã chán ngấy và mệt mỏi với cái chết và sự tàn phá. Đã có những tình trạng căng thẳng gia tăng đối với các chỉ huy trung đội, họ trở thành những con người như chính người lính mà họ chỉ huy: chán nản và giận dữ.
Họ không phát minh ra việc đếm xác tại trận như để đo lường sự thành công, họ không tạo ra luật giao chiến cũng như sự chém giết tàn bạo ở một vùng đất xa xôi Việt Nam. Nhưng họ là những người lính mà Westmoreland và các cấp chỉ huy khác dựa vào, ngõ hầu mong giành lấy chiến thắng trong cuộc chiến ngày càng tàn khốc hơn từ sau năm 1966. Vào ngày 15/3-/968, tại thôn Mỹ Lai, Sơn Mỹ, sự tàn bạo đã lên đỉnh điểm, và những hành động của một chỉ huy trung đội trẻ tuổi đã trở thành hình ảnh mẫu mực chưa bao giờ có về cuộc chiến tranh này- cuộc chiến không phải của những quý ông!



Chiến tranh Việt Nam , nhìn từ nước Mỹ


Chiến tranh Việt Nam , nhìn từ nước Mỹ

TCCS - Cuộc chiến tranh Việt Nam đã trở thành một di sản quan trọng mang "âm hưởng buồn" trong lịch sử nước Mỹ. Giờ đây, hơn một phần ba thế kỷ đã qua, nhưng đối với nước Mỹ, cuộc chiến này vẫn hiện diện không chỉ trong nhiều trang hồi ký của các chính trị gia, các tướng lĩnh hay những cuộc hội thảo, những công trình chuyên khảo của giới nghiên cứu khoa học, mà ngay cả trong quá trình hoạch định và thực thi chính sách đối nội và đối ngoại của chính phủ Hoa Kỳ. Thực tế đó nói lên tầm vóc trong cuộc đụng đầu giữa Mỹ và nhân dân Việt Nam, đồng thời, cũng thấy được những tác động, ảnh hưởng hết sức sâu rộng của cuộc chiến tranh Việt Nam trong lòng nước Mỹ.
Đi tìm lời giải cho thất bại của Mỹ trong cuộc chiến tranh Việt Nam
Những thập niên vừa qua là quãng thời gian để các nhân vật chóp bu trong chính quyền và quân đội Hoa Kỳ hồi tưởng về quá trình can dự của mình với tư cách những nhà hoạch định và điều hành bộ máy chiến tranh ở Việt Nam. Thực chất của những hồi tưởng ấy chính là việc đi tìm lời giải (hay biện minh) cho thất bại của Mỹ trong cuộc chiến tranh Việt Nam, mà họ được coi là người chịu trách nhiệm. Để lý giải về nguyên nhân thất bại của cuộc chiến Việt Nam, từ rất sớm, gần như ngay sau ngày chế độ Việt Nam cộng hoà sụp đổ (tháng 4-1975), tướng Oét-xmô-len (Westmoreland) Tư lệnh Bộ Chỉ huy quân sự Mỹ tại Việt Nam (MACV- Military Assitance Command Vietnam) từ năm 1964 đến 1968, trong cuốn hồi ký có cái tên ấn tượng "Tường trình của một quân nhân" (A soldier reports(1)) đã tập trung mô tả những tình huống của cuộc chiến tranh Việt Nam dưới con mắt của người chỉ huy quân sự cao nhất của quân đội Mỹ, từ lúc nước Mỹ bước qua "lời nguyền"(2), đưa trở lại lục địa châu Á các đơn vị quân chiến đấu Mỹ, tới lúc quân Mỹ bắt đầu kế hoạch rút quân khỏi miền Nam Việt Nam sau đợt tiến công Tết Mậu Thân năm 1968. Trong thâm tâm của mình, Oét-xmô-len luôn nghĩ rằng, đã có thể có một kết cục khác của cuộc chiến tranh, nếu như: "...ngay sau khi đã đưa quân chiến đấu Mỹ vào Nam Việt Nam năm 1965, chiến tranh có thể chấm dứt được trong vòng ít năm, trừ trường hợp không thi hành chính sách sai trái là trả đũa từng bước chống Bắc Việt Nam. Ném bom một ít, ngừng lại một thời gian để cho địch kêu trời, rồi ném bom một ít nữa nhưng không bao giờ đánh đau thật sự. Đó không phải là cách để thắng"(3). Và, "Nếu Tổng thống Giôn-xơn thay đổi chiến lược và lợi dụng thế suy yếu của địch (sau Tết Mậu Thân - LQL) cho phép tôi tiến hành các cuộc hành quân mà chúng tôi đã trù tính hai năm trước (năm 1966 - LQL) đánh sang Lào, Cam-pu-chia và phía Bắc khu phi quân sự, song song với việc tăng cường ném bom và thả mìn cảng Hải Phòng thì chắc chắn Bắc Việt Nam sẽ bị đập tan. Nhưng tình hình đã không diễn ra như vậy. Báo chí và vô tuyến truyền hình đã tạo ra một vầng hào quang không phải thắng lợi mà là thất bại kết hợp với những phần tử chống chiến tranh to mồm nên đã ảnh hưởng sâu sắc đến các quan chức nhát gan ở Oa-sinh-tơn"(4). Như vậy là, với tư cách người đứng đầu cơ quan chỉ huy quân đội Mỹ tại chiến trường miền Nam, Oét-xmô-len "đã không được phép hành động một cách thoả đáng" (LQL nhấn mạnh), mà luôn chịu sự ràng buộc bởi những quyết định của Tổng thống và bộ máy chỉ đạo chiến tranh tại Oa-sinh-tơn, bởi vậy, cuộc chiến của Mỹ ở Việt Nam cuối cùng đã đi đến thất bại. Cũng trong cuốn hồi ký của mình, Oét-xmô-len còn liệt kê những sai lầm nghiêm trọng về chiến lược của Mỹ, ví như, quân Mỹ và Sài Gòn đã không được phép đánh chiếm Bắc Việt Nam (nhằm phá tận gốc nguồn chi viện sức người, sức của cho cuộc chiến đấu của Việt cộng ở miền Nam); chính phủ và Tổng thống không nói hết được với nhân dân Mỹ về quy mô và tính chất của sự hy sinh phải có, để đến nỗi "tạo ra một lỗ hổng về niềm tin để rồi phát triển thành một vực sâu không thể nào vượt qua được"(5); cuộc chiến tranh Việt Nam "là cuộc chiến tranh đầu tiên trong lịch sử bị thua trên các cột báo của tờ New York Times"(6)...
Nếu như Oét-xmô-len vạch ra những sai lầm chiến lược của Mỹ để trên cơ sở đó đặt ra chữ "nếu" đối với lịch sử, thì người được cho là "kiến trúc sư" của cuộc chiến tranh Việt Nam - Mắc Na-ma-ra (Mc Namara), Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ dưới thời hai Tổng thống Ken-nơ-đi (J. Kennedy) và Giôn-xơn, lại quan niệm sự dính líu của Mỹ trong cuộc chiến tranh Việt Nam như là một "tấn thảm kịch". Với cách nhìn nhận như vậy, trong cuốn hồi ký với nhan đề: "Nhìn lại quá khứ: Tấn thảm kịch và bài học Việt Nam"(7) (In Retrospect: The Tragedy and Lessons of Vietnam) ra mắt công chúng vào thời điểm tròn hai mươi năm sau cuộc chiến tranh (tháng 4-1995), Mắc Na-ma-ra viết: "Chúng tôi ở trong chính quyền Ke-nơ-đi và Giôn-xơn, tham gia vào các quyết định về Việt Nam, đã hành động theo những gì chúng tôi coi là nguyên tắc và truyền thống của dân tộc này. Chúng tôi đã ra các quyết định dưới ánh sáng của các giá trị đó. Nhưng chúng tôi đã sai lầm, sai lầm khủng khiếp. Chúng tôi mắc nợ các thế hệ tương lai trong việc giải thích tại sao lại sai lầm như vậy"(8) "Tôi muốn người dân Mỹ hiểu tại sao chúng tôi phạm những sai lầm như thế và rút ra bài học từ những sai lầm đó. Tôi muốn nói rằng: "Đây là cái có ích mà chúng ta có thể rút ra từ cuộc chiến tranh Việt Nam và có thể vận dụng cho thế giới hôm nay và mai sau". Đó là cách duy nhất để dân tộc ta có thể hy vọng đẩy quá khứ về phía sau"(9). Điều đặc biệt, ở phần cuối của cuốn hồi ký, Mắc Na-ma-ra đã rút ra tới 11 bài học từ những kinh nghiệm lịch sử mà nước Mỹ đã phải nếm trải ở Việt Nam. Trong số "Những bài học Việt Nam", Mắc Na-ma-coi việc "đánh giá thấp sức mạnh của chủ nghĩa dân tộc" và "sự thiếu hiểu biết cơ bản... về lịch sử văn hoá và chính trị"(10) là những sai lầm nghiêm trọng khi nhìn nhận, đánh giá về đối phương và cố nhiên đây là một trong những nguyên nhân đưa đến thảm bại của nước Mỹ trong cuộc chiến tranh Việt Nam.
Vẫn trên con đường tìm lời giải cho những thất bại của Mỹ trong cuộc chiến Việt Nam, vào năm 1999, Mắc Na-ma-ra cùng nhóm tác giả gồm Giêm Blai (James G. Blight), Rô-bớt Brai-am (Robert Brigham), Tô-mát Bia-xti-cơ (Thomas Biersteker) và Hơ-bớt Xchan-đơ (Col. Herbert Schandler) đã cho ra mắt độc giả cuốn sách có tựa đề "Cuộc tranh luận không dứt". Theo Mắc Na-ma-ra, chủ đề của cuốn sách "đã được hỗ trợ qua phân tích các tài liệu Việt Nam và Trung Quốc mà trước đây chưa có và mới được biên dịch cũng như qua 6 cuộc thảo luận ở Hà Nội trong hơn hai năm qua (năm 1997, 1998 - LQL) giữa các học giả và các quan chức cũ của Việt Nam và Mỹ"(11). Mắc Na-ma-ra đã dẫn ra trong cuốn sách của mình cuộc gặp gỡ và trao đổi với Đại tướng Võ Nguyên Giáp tại Hà Nội, ngày 9-11-1995, trong chuyến đi đầu tiên của ông đến Hà Nội. Tại cuộc trao đổi này, Mắc Na-ma-ra và Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã nêu ra những quan điểm của mình để trên cơ sở đó thống nhất một số nội dung sẽ thảo luận tại hội nghị giữa các quan chức và các học giả hai bên sẽ diễn ra sau đó. Khi Mắc Na-ma-ra nêu quan điểm rằng: "chúng ta cần xem xét lại những hiểu nhầm nhau - vì hai lý do - một là chúng ta cần xác định những cơ hội bị bỏ lỡ và hai là chúng ta cần rút ra bài học, những bài học sẽ cho phép chúng ta tránh những thảm kịch tương lai"(12), Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã nói: "Tôi đồng ý các bài học là quan trọng. Nhưng ngài nhầm khi gọi cuộc chiến tranh là một "thảm kịch" - tức là nói rằng nó phát sinh từ những cơ hội bị bỏ lỡ. Có thể đó là thảm kịch đối với các ngài vì cuộc chiến tranh của các ngài là chiến tranh xâm lược "theo kiểu thực dân mới"... Các ngài muốn thế chân Pháp; các ngài đã thất bại, binh lính đã bỏ xác, như vậy đúng là thảm kịch vì họ đã chết cho một sự nghiệp xấu. Nhưng đối với chúng tôi, cuộc chiến tranh chống Mỹ là một sự hy sinh cao cả. Chúng tôi không muốn đánh Mỹ. Nhưng các ngài đã không cho chúng tôi lựa chọn. Nhân dân chúng tôi hy sinh nhiều cho sự nghiệp tự do và độc lập. Đối với chúng tôi không có cơ hội bị bỏ lỡ. Chúng tôi đã làm những gì phải làm để đánh đuổi các ngài... Vì thế tôi nhất trí là các ngài đã bỏ lỡ cơ hội và các ngài cần rút bài học. Còn chúng tôi ư? Theo tôi, chúng tôi không thể làm gì khác trong những hoàn cảnh như vậy"(13).
Với nội dung trao đổi giữa Đại tướng Võ Nguyên Giáp và ông Mắc Na-ma-ra, cho phép chúng ta có cái nhìn toàn diện hơn về cái gọi là "thảm kịch" hay "những cơ hội bị bỏ lỡ" trong quá trình đi tìm căn nguyên thất bại trong cuộc chiến tranh của giới cầm quyền Mỹ thời kỳ chiến tranh Việt Nam. Dường như, cả Oét-xmô-len và Mắc Na-ma-ra đều muốn lý giải nguyên nhân thất bại của Mỹ trong cuộc chiến Việt Nam là do những nguyên nhân mang tính chung chung, chẳng hạn như đã có "những sai lầm chiến lược" trong quá trình tiến hành chiến tranh; hay sự thiếu thống nhất ý chí hành động của bộ máy điều hành chiến tranh ở Oa-sinh-tơn; rồi đi xa hơn, đó là một sự "hiểu nhầm" giữa hai bên đối địch... Như thế, những tranh luận về nguyên nhân thất bại của nước Mỹ trong cuộc chiến tranh Việt Nam chắc hẳn vẫn chưa thể chấm dứt...
Những tư liệu lịch sử lên tiếng
Nói đến tư liệu lịch sử là nói đến tính xác thực của những thông tin mà những tư liệu đó chứa đựng. Theo cách hiểu như vậy, thì cácvăn kiện của Lầu Năm góc (The Pentagon papers) chính là những tài liệu cung cấp nhiều thông tin cần thiết cho việc tìm hiểu, nghiên cứu, luận giải về cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam. Thật vậy, những tài liệu này hình thành từ giữa năm 1967, khi Mắc Na-ma-ra - Bộ trưởng Quốc phòng đương nhiệm quyết định: "cho tiến hành một công trình nghiên cứu lớn để biết lý do và cách thức Mỹ đã dính quá sâu... ở Việt Nam"(14). Một điều đáng nói là, không chỉ được hình thành ngay trong thời điểm Mỹ đẩy chiến tranh Việt Nam lên tới đỉnh cao, mà những tài liệu này vào ngày Chủ nhật, 13-6-1971, đã bắt đầu được đăng tải trên báo New York Times. Sau 3 số báo đầu tiên, Toà án Liên bang phụ trách quận Nam Niu Oóc ra lệnh tạm thời không cho báo New York Times đăng tiếp, với lập luận là "nếu tiếp tục công khai phổ biến câu chuyện này thì lợi ích quốc phòng của nước Mỹ và nền an ninh của nước Mỹ sẽ gặp tai hại tức thời và không sao sửa chữa được"(15). Tuy nhiên, giới báo chí của Mỹ (nổi bật là hai tờ New York Times và Washington Post) đã đấu tranh thông qua các toà án trong 15 ngày, với lập luận rằng, các văn kiện của Lầu Năm góc là "thuộc về lĩnh vực của công chúng và không gây nguy hiểm gì đến an ninh quốc gia"(16). Trước lý lẽ của cuộc đấu tranh mà báo giới tiến hành, Toà án tối cao Mỹ đã cho phép tiếp tục đăng tải những tài liệu của Lầu Năm góc. Quả thực, qua những thông tin do các văn kiện của Lầu Năm góc đưa lại, người ta đã được tiếp cận gần hơn với sự thật của cuộc chiến do Mỹ tiến hành ở Việt Nam, và điều đó đã được nhà báo Nây Si-han (Neil Sheehan), khi viết lời giới thiệu những văn kiện của Lầu Năm góc nêu ra: "toàn bộ câu chuyện đã chỉ rõ rằng 4 chính quyền (Tru-man, Ai-xen-hao, Ken-nơ-đi và Giôn-xơn - LQL) đã dần dần phát triển một tinh thần chung là cam kết bảo vệ một nước Việt Nam không cộng sản, sẵn sàng đánh miền Bắc để bảo vệ miền Nam và cuối cùng thất vọng với cố gắng này - tới mức độ lớn hơn nhiều so với những lời nói công khai của họ"(17). Như thế, phải chăng tư liệu lịch sử (như trong trường hợp các văn kiện Lầu Năm góc) tự nó đã nói lên những thông tin có giá trị và là chất liệu để trên cơ sở đó các học giả bằng những luận giải của mình đi sâu tìm hiểu thực chất của những khúc quanh lịch sử trong cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam.
Trên ý nghĩa đó, Am-tơ (J. Amter), một luật sư và nhà hoạt động ngân hàng tại Đen-vơ (Denver) (tiểu bang Cô-lô-ra-đô, Mỹ), với mong muốn nói lên những sự việc diễn ra trong cuộc chiến tranh Việt Nam, giải thích những sự việc đó không đưa ý kiến cá nhân, mà chỉ nêu những kết luận qua tài liệu nghiên cứu, tham khảo; và, sau nhiều năm tập trung nghiên cứu, ông đã hoàn thành cuốn sách với nhan đề Lời phán quyết về Việt Nam(18). Trong lời tựa của cuốn sách này ông đã viết: "Phần đông những người Mỹ ngày nay đã thấy cuộc chiến tranh Việt Nam đã từng là một sai lầm và đã từng là vô đạo đức. Tuy vậy, ít người trong số đó được cung cấp đầy đủ sự thật để hiểu cái chính sách đối ngoại đã dẫn tới việc chúng ta dính líu vào cuộc chiến tranh này. ít người biết được điều gì thực sự đã xảy ra cả ở đây lẫn ở Đông Nam á. Cũng ít người biết ai phải chịu trách nhiệm về các quyết định đã đưa ra". "Những cuốn sách của các quan chức chính phủ và các nhà quân sự mà bản thân là những diễn viên chính đã tham gia vào việc làm ra các quyết định - có xu hướng chỉ đưa ra những sự việc nhằm bào chữa cách xử sự của chính họ. Nhưng rất may bây giờ chúng ta đã được tiếp xúc với một khối lượng to lớn tư liệu về chiến tranh Việt Nam, trong đó một số vừa mới được cho ra khỏi hồ sơ mật"(19).
Một trường hợp khác, Giáo sư Gabri-en Kôn-kô (Gabriel Kolko) - nhà sử học, đã kiên trì tập hợp các nguồn tư liệu tại Oa-sinh-tơn, Pa-ri và những chuyến khảo sát tại Việt Nam để thể hiện cuốn sách Giải phẫu một cuộc chiến tranh(20) (Anatomy of a war) với một kỳ công chưa từng thấy. Ông bắt tay nghiên cứu và viết cuốn sách này từ năm 1964 - nghĩa là vào lúc Mỹ chưa đưa quân chiến đấu vào miền Nam Việt Nam, và hoàn thành cuốn sách sau hơn 20 năm - khi cuộc chiến tranh Việt Nam đã kết thúc được 10 năm (năm 1985). Với một khoảng thời gian hơn 20 năm, một khối lượng tư liệu đồ sộ, cuộc chiến tranh Việt Nam đã được G.Kôn-kô phân tích một cách cặn kẽ, sâu sắc qua từng sự kiện, nhân vật. Theo đánh giá của dư luận, quyển sách của G.Kôn-kô "là một công trình hợp thời, thiết tha, thúc giục và gợi cảm mà một người quan tâm đến vai trò quá tự cao tự đại của Mỹ trên thế giới cần phải đọc"(21). "Một quyển sách rất sinh động và hấp dẫn về một cuộc chiến tranh có tác động sâu sắc đến toàn thế giới. Bất cứ nhà nghiên cứu nghiêm túc nào về chiến tranh Đông Dương cũng cần phải đọc nó"(22). Chỉ riêng về mặt tư liệu, cuốn sách được coi là "có thể trở thành một điểm then chốt để bắt đầu tất cả các cuộc thảo luận tương lai về chiến tranh Việt Nam"(23).
Đồng hành cùng với J. Am-tơ và G.Kôn-kô trên con đường tìm hiểu, nghiên cứu, luận giải cuộc chiến tranh Việt Nam qua những nguồn tư liệu lịch sử có giá trị (tư liệu giải mật của Nhà Trắng, Lầu Năm góc, Bộ Ngoại giao, Cục tình báo Trung ương (CIA), thư viện của các tổng thống...), hơn ba thập niên qua, các học giả Mỹ đã cho ra đời hàng nghìn cuốn sách và hàng vạn bài báo viết về cuộc chiến tranh Việt Nam. Một thống kê đã chỉ ra rằng, cho đến đầu thế kỷ XXI, "có khoảng 3 vạn cuốn sách và bài báo về chủ đề chiến tranh ở Việt Nam đã được xuất bản tại Mỹ, trong đó có khoảng gần một ngàn rưỡi cuốn sách của các nhà khoa học"(24). Những con số vừa đề cập nói rõ hơn sức hút lớn của chủ đề lịch sử cuộc chiến tranh Việt Nam đối với giới nghiên cứu ở Mỹ, đặc biệt khi mà Mỹ là nước bại trận.
Thay lời kết
Không ai muốn quên những huy hoàng của quá khứ và chẳng ai muốn gợi lại những buồn đau nếm trải đã qua. Đối với nước Mỹ, dù có muốn chối bỏ những "sai lầm" hay "tấn thảm kịch" của cuộc chiến tranh Việt Nam, thì di sản của cuộc chiến tranh này cũng đã trở thành một dấu ấn đậm sâu trong lịch sử nước Mỹ, và cố nhiên, nó còn tác động đến hiện tại và tương lai của nước Mỹ. Những bài học rút ra từ cuộc chiến tranh Việt Nam chắc hẳn phải được nước Mỹ xem xét thấu đáo để tránh lặp lại sai lầm trong các cuộc chiến tranh mà Mỹ đang tiến hành. Hơn hết, nước Mỹ với vị thế của mình không muốn có một cuộc chiến tranh Việt Nam thứ hai./.
______________________________________________________________________________________________
(1) Westmoreland: Tường trình của một quân nhân (Edition Doubleday Incorporation Garden City, New York, 1976), Nhà xuất bản Trẻ ấn hành bản tiếng Việt (do Phòng khoa học Quân khu 9 biên dịch), Thành phố Hồ Chí Minh, 1988
(2) Sau cuộc chiến tranh Triều Tiên (1950 - 1953), vì những lý do nhất định, chính giới Mỹ luôn khẳng định, nước Mỹ sẽ không đưa quân chiến đấu vào lục địa châu á, tuy nhiên, trước những yêu cầu của mục tiêu chiến lược ở Nam Việt Nam, nước Mỹ đã đưa quân Mỹ vào chiến trường Việt Nam, bắt đầu từ tháng 3-1965
(3), (4), (5), (6) Westmoreland: Tường trình của một quân nhân, Sđd, tr 136, 137, 140, 155
(7), (8) Robert Mc Namara: Nhìn lại quá khứ: Tấn thảm kịch và bài học Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr 12
(9), (10) Robert Mc Namara: Nhìn lại quá khứ: Tấn thảm kịch và bài học Việt Nam, Sđd, tr 12, 136
(11), (12), (13) Robert Mc Namara, James G. Blight, Robert Brigham, Thomas Biersteker và Col. Herbert Schandler: Cuộc tranh luận không dứt, Sđd, tr 5, 23
(14) Tài liệu mật Bộ Quốc phòng Mỹ về cuộc chiến tranh Việt Nam, Việt Nam thông tấn xã ấn hành (bản tiếng Việt) tháng 8 năm 1971, tr 13
(15), (16), (17) Tài liệu mật Bộ Quốc phòng Mỹ về cuộc chiến tranh Việt Nam, Tlđd, tr 6, 7
(18) J. Amter, Lời phán quyết về Việt Nam (Nguyễn Tấn Cưu biên dịch), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1985
(19) J. Amter: Lời phán quyết về Việt Nam, Sđd, tr 10
(20) Gabriel Kolko: Giải phẫu một cuộc chiến tranh (Nguyễn Tấn Cưu biên dịch), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2003
(21), (22), (23) Gabriel Kolko: Giải phẫu một cuộc chiến tranh, Sđd, tr 6, 7
(24) Nguyễn Đình Lê: Tình hình nghiên cứu và xuất bản về cuộc chiến tranh Việt Nam (1954 - 1975) ở Mỹ, Tạp chí Lịch sử quân sự, số 3-2001, tr 36

Tìm lời giải cho cuộc chiến


Tìm lời giải cho cuộc chiến

Cuộc chiến tranh Việt Nam đã là một di sản quan trọng mang âm hưởng buồn trong lịch sử nước Mỹ. Hơn 1/3 thế kỷ đã qua nhưng cuộc chiến này vẫn hiện diện trong nhiều trang hồi ký của các chính trị gia, các tướng lĩnh, những cuộc hội thảo, những công trình chuyên khảo của giới nghiên cứu... Thực tế đó nói lên những tác động hết sức sâu rộng trong lòng nước Mỹ.
Mắc nợ thế hệ tương lai
Để lý giải về nguyên nhân thất bại của cuộc chiến Việt Nam, từ rất sớm, gần như ngay sau ngày chế độ Việt Nam cộng hòa sụp đổ (tháng 4-1975), tướng Westmoreland, Tư lệnh Bộ Chỉ huy Quân sự Mỹ tại Việt Nam, trong cuốn hồi ký “Tường trình của một quân nhân” (A soldier reports) đã tập trung mô tả những tình huống của cuộc chiến tranh. Lý giải nguyên nhân thất bại, một mặt, Westmoreland cho rằng “đã không được phép hành động một cách thỏa đáng”, mặt khác ông ta cũng liệt kê những sai lầm nghiêm trọng về chiến lược của Mỹ. Một trong những sai lầm đó là quân Mỹ và Sài Gòn đã không được phép đánh chiếm Bắc Việt Nam (nhằm phá tận gốc nguồn chi viện sức người, sức của cho cuộc chiến đấu của Việt cộng ở miền Nam); chính phủ và tổng thống không nói hết được với nhân dân Mỹ về quy mô và tính chất của sự hy sinh phải có, để đến nỗi “tạo ra một lỗ hổng về niềm tin để rồi phát triển thành một vực sâu không thể nào vượt qua được”.
Còn người được cho là “kiến trúc sư” của cuộc chiến tranh Việt Nam - McNamara, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ dưới thời hai tổng thống lại quan niệm sự dính líu của Mỹ trong cuộc chiến tranh Việt Nam như là một “tấn thảm kịch”.
Trong cuốn hồi ký với nhan đề “Nhìn lại quá khứ: Tấn thảm kịch và bài học Việt Nam”, ra mắt công chúng vào thời điểm tròn hai mươi năm sau cuộc chiến tranh (tháng 4-1995), McNamara viết: “Tham gia vào các quyết định về Việt Nam, đã hành động theo những gì chúng tôi coi là nguyên tắc và truyền thống của dân tộc này. Chúng tôi đã ra các quyết định dưới ánh sáng của các giá trị đó. Nhưng chúng tôi đã sai lầm, sai lầm khủng khiếp. Chúng tôi mắc nợ các thế hệ tương lai trong việc giải thích tại sao lại sai lầm như vậy”.
Những tư liệu lịch sử lên tiếng
Nói đến tư liệu lịch sử là nói đến tính xác thực của những thông tin mà những tư liệu đó chứa đựng. Các văn kiện của Lầu Năm góc về cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam hình thành từ giữa năm 1967, khi McNamara, Bộ trưởng Quốc phòng đương nhiệm quyết định: “Cho tiến hành một công trình nghiên cứu lớn để biết lý do và cách thức Mỹ đã dính quá sâu... ở Việt Nam”. Một điều đáng nói là, những tài liệu này, vào ngày 13-6-1971, đã bắt đầu được đăng tải trên báo New York Times. Sau 3 số báo đầu tiên, Tòa án Liên bang phụ trách quận Nam New York ra lệnh tạm thời không cho Báo New York Times đăng tiếp, với lập luận là “nếu tiếp tục công khai phổ biến câu chuyện này thì lợi ích quốc phòng của nước Mỹ và nền an ninh của nước Mỹ sẽ gặp tai hại tức thời và không sao sửa chữa được”.
Tuy nhiên, giới báo chí của Mỹ (nổi bật là hai tờ New York Times và Washington Post) đã đấu tranh thông qua các tòa án trong 15 ngày, với lập luận rằng, các văn kiện của Lầu Năm góc là “thuộc về lĩnh vực của công chúng và không gây nguy hiểm gì đến an ninh quốc gia”. Cuối cùng, Tòa án tối cao Mỹ đã cho phép tiếp tục đăng tải những tài liệu của Lầu Năm góc.
Vẫn trên con đường tìm lời giải cho những thất bại của Mỹ trong cuộc chiến Việt Nam, vào năm 1999, McNamara cùng nhóm tác giả James G.Blight, Robert Brigham, Thomas Biersteker và Col.Herbert Schandler cho ra mắt cuốn “Cuộc tranh luận không dứt”. McNamara đã dẫn ra trong cuốn sách cuộc gặp gỡ và trao đổi với Đại tướng Võ Nguyên Giáp tại Hà Nội, ngày 9-11-1995. Khi McNamara nêu quan điểm: “Chúng ta cần xem xét lại những hiểu nhầm nhau - vì hai lý do - một là chúng ta cần xác định những cơ hội bị bỏ lỡ và hai là chúng ta cần rút ra bài học, những bài học sẽ cho phép chúng ta tránh những thảm kịch tương lai”.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã nói: “Ngài nhầm khi gọi cuộc chiến tranh là một “thảm kịch” - tức là nói rằng nó phát sinh từ những cơ hội bị bỏ lỡ. Có thể đó là thảm kịch đối với các ngài vì cuộc chiến tranh của các ngài là chiến tranh xâm lược “theo kiểu thực dân mới”... Các ngài muốn thế chân Pháp; các ngài đã thất bại, binh lính đã bỏ xác, như vậy đúng là thảm kịch vì họ đã chết cho một sự nghiệp xấu. Nhưng đối với chúng tôi, cuộc chiến tranh chống Mỹ là một sự hy sinh cao cả… Tôi nhất trí là các ngài đã bỏ lỡ cơ hội và các ngài cần rút bài học. Còn chúng tôi ư? Theo tôi, chúng tôi không thể làm gì khác trong những hoàn cảnh như vậy”.
...Hơn ba thập niên qua, các học giả Mỹ đã cho ra đời hàng ngàn cuốn sách và hàng vạn bài báo viết về cuộc chiến tranh Việt Nam. Một thống kê đã chỉ ra rằng, cho đến đầu thế kỷ 21, “có khoảng 3 vạn cuốn sách và bài báo về chủ đề chiến tranh ở Việt Nam đã được xuất bản tại Mỹ, trong đó có khoảng gần 1.500 cuốn sách của các nhà khoa học”. Những con số vừa đề cập nói rõ hơn sức hút lớn của chủ đề lịch sử cuộc chiến tranh Việt Nam đối với giới nghiên cứu ở Mỹ, đặc biệt khi mà Mỹ là nước bại trận.
Với bốn nhiệm kỳ làm phóng viên thường trú tại Hà Nội, nhà báo Trung Quốc Trương Gia Tường (Tân Hoa xã) còn nhớ như in ngày mà cả Việt Nam vỡ òa trong niềm vui chiến thắng.
Ông kể: “Khắp các đường phố Hà Nội, người dân tưng bừng đốt pháo ăn mừng. Nhà nào cũng treo cờ đỏ sao vàng và cờ giải phóng. Dòng người kéo về quanh hồ Hoàn Kiếm và Nhà hát lớn giơ cao ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh, vẫy cờ hân hoan đón mừng thắng lợi vĩ đại”.
Ông viết tiếp: “Tinh thần chiến đấu không sợ gian khổ, không sợ hy sinh và hành động anh hùng của quân, dân Việt Nam làm tôi rất xúc động, tôi vui chung với chiến công hiển hách của họ. 36 năm đã trôi qua nhưng vô vàn những hình ảnh anh hùng của quân và dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ vẫn khắc sâu trong trái tim tôi, in đậm trong trí óc tôi. Trong số họ có rất nhiều người dân bình thường, có thể họ không phải là những nhân vật anh hùng và cũng chưa từng được khen ngợi, tuyên dương, nhưng hành động và tư tưởng của họ vẫn như vầng hào quang lấp lánh làm rung động lòng người”.
KIM THÀNH

Bước ngoặt chiến tranh Việt Nam của một người Mỹ


Bước ngoặt chiến tranh Việt Nam của một người Mỹ

Bà Xu-dân Snôn
QĐND - Lần thứ 3 trở lại Việt Nam, Xu-dân Snôn (Susan Schnall), người phụ nữ Mỹ nổi tiếng với việc rải truyền đơn bằng máy bay ở vùng Vịnh Xan Phran-xi-xcô để phản đối việc Mỹ tham chiến ở dải đất hình chữ S nói rằng, bà luôn cảm thấy mình phải có trách nhiệm với các nạn nhân da cam/đi-ô-xin ở Việt Nam.
Năm 1967, cô gái trẻ Xu-dân Snôn tham gia hải quân Mỹ, làm y tá ở Ca-li-phoóc-ni-a, chữa bệnh cho các thương binh trở về từ chiến trường Việt Nam. Chứng kiến những binh lính trẻ tuổi được huấn luyện để giết người vô tội, dần dần Xu-dân nhận ra mình đang bị sử dụng trong một bộ máy chiến tranh. Và ý nghĩ phản chiến cứ lớn dần trong lòng Xu-dân cho tới khi bà tham gia phong trào phản chiến cùng với những đồng nghiệp trong quân đội có cùng quan điểm. “Tôi biết máy bay B52 Mỹ thả truyền đơn kêu gọi bộ đội Việt Nam đào ngũ. Vì thế tôi muốn dùng cách tương tự, sử dụng máy bay để thể hiện quan điểm của mình trên chính đất Mỹ. Một người bạn của tôi là phi công. Vậy là, vào tháng 10-1968, chúng tôi chất đầy lên máy bay truyền đơn nói về buổi diễu hành hòa bình của các binh lính và cựu chiến binh ở Xan Phran-xi-xcô, sẽ diễn ra hai ngày sau đó. Từ độ cao vài trăm mét, chúng tôi bắt đầu mở cửa máy bay để thả truyền đơn tại các căn cứ quân sự vùng Vịnh Xan Phran-xi-xcô, tàu sân bay USS Enterprise và bệnh viện Hải quân Oak Knoll, nơi tôi làm việc. Sau đó, chúng tôi tổ chức một cuộc họp báo”.
Khỏi phải nói lúc đó sự kiện này đã gây chấn động như thế nào ở nước Mỹ, nhưng dù vậy, Xu-dân vẫn chưa có ý định dừng lại. Bà tiếp tục phản đối chiến tranh bằng cách tham gia các cuộc biểu tình phản chiến, thậm chí còn mặc nguyên quân phục để biểu tình. “Tại cuộc biểu tình, tôi mặc quân phục tới dự, điều trái với quy định của hải quân là cấm mặc quân phục khi bạn đang bày tỏ những quan điểm tôn giáo, đảng phái hay chính trị. Lúc đó tôi nghĩ, nếu tướng Oét-xmo-len (Westmoreland) có thể mặc quân phục tới Quốc hội để xin cấp tiền cho chiến tranh ở Việt Nam, tôi cũng có thể làm như vậy với tư cách là thành viên của quân đội để thể hiện quan điểm phản chiến”. Và cũng vì thế, tháng 2-1969, Xu-dân bị tòa án binh kết án 6 tháng tù giam và đuổi khỏi quân đội.
Đôi mắt sáng và dáng đi nhanh nhẹn, trông Xu-dân năng động và trẻ hơn nhiều so với tuổi 68. Đến Việt Nam lần này với tư cách trưởng Đoàn cán bộ Hội Khoa học và sức khỏe cộng đồng của Mỹ thuộc Ban vận động cứu trợ các nạn nhân chất độc da cam/đi-ô-xin Việt Nam, Xu-dân nói, bà hy vọng thông qua chuyến đi này để thu thập tư liệu, tìm hiểu thực tế nhằm giúp cho việc huy động tiền và các hoạt động hỗ trợ cho các nạn nhân da cam Việt Nam được tốt hơn.
Xu-dân cho biết, bà và các thành viên trong đoàn đã phối hợp với các Hạ nghị sĩ Mỹ viết Dự luật đòi hỏi quyền lợi cho các nạn nhân chất độc da cam Việt Nam, trong đó kêu gọi bồi thường cho các nạn nhân 1 tỷ USD và tẩy độc ở 28 điểm nóng nhiễm đi-ô-xin tại Việt Nam. Nhưng để dự luật được đưa ra Hạ viện và thảo luận thông qua thì phải có một nghị sĩ Mỹ đứng ra vận động và đồng bảo trợ. “Hiện các tổ chức cựu chiến binh Mỹ và chúng tôi đang tích cực vận động từng nghị sĩ. Có những người thông cảm với dự luật này, nhưng cũng có những người không quan tâm”, Xu-dân cười buồn. Dù là thế, Xu-dân nói bà và bạn bè không nản lòng. “Nhưng cho dù huy động bao nhiêu đi nữa cũng không đáp ứng hết yêu cầu chữa trị và giúp đỡ các nạn nhân Việt Nam. Chính vì thế mà chúng tôi tiếp tục giáo dục để nâng cao nhận thức của người Mỹ về vấn đề này. Cuộc chiến tranh Việt Nam, tôi cho rằng chưa bao giờ kết thúc”, Xu-dân trầm ngâm.
Xu-dân cũng vui vẻ chia sẻ, lần này các thành viên trong đoàn đã quyên góp 3.250 USD trao tặng Hội nạn nhân chất độc da cam/đi-ô-xin Việt Nam (VAVA) để ủng hộ cho các nạn nhân. Ngoài ra, còn một số tiền thu được từ việc bán tranh cổ động phản chiến của Xu-dân cũng sẽ được đoàn trao cho các Hội nạn nhân da cam ở một số tỉnh khác của Việt Nam. Nguồn gốc của số tranh cổ động này cũng là một câu chuyện khá thú vị. Năm 1972, Xu-dân đến Cu-ba dự hội nghị quốc tế về chiến tranh Việt Nam, và được tặng một số tranh cổ động về hậu quả chiến tranh với người dân. Xu-dân đã giữ đến tận bây giờ. Nhưng trước chuyến đi Việt Nam, bà đã quyết định bán nó cho Trung tâm nghiên cứu Cu-ba ở Mỹ. “Tôi chỉ nghĩ đơn giản rằng việc này là cần thiết. Số tiền thu được không nhiều, nhưng nó vẫn có thể góp phần giúp đỡ những nạn nhân, những con người đã quá khốn khó vì phải chống chọi với bệnh tật”, Xu-dân bộc bạch.
Trưa Hà Nội rừng rực nắng. Gương mặt người bạn Mỹ lấm tấm mồ hôi. Dù vậy, dường như bà không quá để ý. Quàng một chiếc khăn lên đầu che nắng, quệt vài giọt mồ hôi, Xu-dân đùa rằng nếu thời gian cho phép, bà có thể nói từ giờ đến sáng mai về những dự định giúp đỡ các nạn nhân da cam. Vì sao ư? Giúp đỡ và kêu gọi sự giúp đỡ đối với các nạn nhân Việt Nam khiến cho bà cảm thấy cuộc sống có ý nghĩa hơn. “Cuộc chiến ở Việt Nam là bước ngoặt trong cuộc đời tôi. Chính phủ Mỹ đã sử dụng danh nghĩa của tôi - với tư cách là công dân Mỹ, làm những việc đáng chê trách ở Việt Nam. Vì thế mà tôi cảm thấy mình phải có trách nhiệm với các nạn nhân ở Việt Nam. Chúng tôi sẽ tiếp tục đấu tranh đòi công lý cho nạn nhân Việt Nam, tiếp tục vận động pháp lý trong quốc hội Mỹ, và cố gắng quyên góp nhiều hơn để hỗ trợ tài chính giúp đỡ giải quyết hậu quả ở Việt Nam”, Xu-dân đã đặt tay lên nơi có trái tim như một cử chỉ bày tỏ lòng chân thành.
Đoàn cán bộ Hội Khoa học và Sức khỏe cộng đồng của Mỹ thuộc Ban vận động cứu trợ các nạn nhân chất độc da cam/đi-ô-xin Việt Nam do bà Xu-dân Snôn dẫn đầu đã có buổi thăm, làm việc tại VAVA ngày hôm qua (5-6) tại Hà Nội. Đoàn gồm các chuyên gia nghiên cứu y học, hóa học và chăm sóc sức khỏe cộng đồng, đặc biệt là người tàn tật. Sau buổi làm việc tại Hà Nội, Đoàn các nhà khoa học Mỹ dự kiến sẽ có buổi làm việc với Bộ Y tế, làm việc với Hội Nạn nhân chất độc da cam/đi-ô-xin tại Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh, Thừa Thiên-Huế.

Khe Sanh: “Cụm chiến lược” thất bại của đế quốc Mỹ


Khe Sanh: “Cụm chiến lược” thất bại của đế quốc Mỹ
Khe Sanh là một thị trấn thuộc huyện Hướng Hóa (Quảng Trị), nằm trong một thung lũng rộng phía Tây QL 9, cách biên giới Việt Nam - Lào hơn 10 km.
Do bị động trên toàn chiến trường miền Nam, tướng Mỹ là Oét-mo-len đã liều lĩnh đưa một số lượng lớn quân tinh nhuệ lên đóng chốt ở Khe Sanh, biến nơi đây thành “cụm chiến lược” có vị trí “mỏ neo” then chốt và “bất khả xâm phạm” nhằm phong tỏa biên giới Việt - Lào, cô lập miền Nam với miền Bắc theo ý đồ của quân đội Mỹ.

“Cụm chiến lược” Khe Sanh chủ yếu gồm ba cứ điểm chính là Làng Vây, Khe Sanh và Tà Cơn. Ngoài ra Mỹ còn đưa quân chiếm đóng một số điểm cao ở xung quanh. Trong đó Tà Cơn có sân bay và là cứ điểm quan trọng nhất. Cả ba cứ điểm hợp thành khu tam giác phòng thủ, do 5 tiểu đoàn lính thủy đánh bộ Mỹ, 1 tiểu đoàn biệt động ngụy và hơn 10 đại đội ngụy khác có cố vấn Mỹ đi kèm đóng giữ. Tổng cộng khoảng 7 nghìn quân (gồm 6 nghìn lính Mỹ), dưới quyền chỉ huy của Đại tá Lao-đơ. Ngoài ra, khi Khe Sanh bị ta vây hãm còn có hơn 4 vạn lính Mỹ khác được đưa tới nằm chờ ở ven Đường số 9 sẵn sàng ứng cứu. Để giữ Khe Sanh, địch xây dựng nhiều công sự, hầm ngầm kiên cố, trang bị nhiều vũ khí hiện đại, tối tân và tập trung pháo binh, máy bay bắn phá, ném bom yểm trợ khi cần thiết.

Tuy vậy, từ năm 1967, quân và dân ta ở khu vực Quảng Trị đã liên tiếp thực hiện các cuộc tiến công tiêu diệt kết hợp bắn pháo, bắn máy bay, bao vây bắn tỉa, chặn đánh giao thông gây cho địch nhiều thiệt hại nặng nề... Đặc biệt trong dịp Tết Mậu Thân, từ ngày 20-1-1968, Quân giải phóng đã giáng cho cụm cứ điểm Khe Sanh những đòn sấm sét, được báo chí phương Tây gọi là “Điện Biên Phủ thứ hai”. Trong trận đánh ngày 21-1-1968, Chi khu quân sự Hướng Hóa bị thất thủ, hơn 300 lính Mỹ bị tiêu diệt và bắt sống. Sau thất bại này, Tổng thống Mỹ Giôn-xơn đã bắt các tướng lĩnh Mỹ phải “ký giấy cam đoan” giữ Khe Sanh bằng bất cứ giá nào. Đêm 6 rạng ngày 7-2-1968, cứ điểm Làng Vây bị san bằng lần thứ hai, gần 1 nghìn quân Mỹ và ngụy bị tiêu diệt. Mất hai cứ điểm quan trọng là Hướng Hóa và Làng Vây, vòng vây của quân ta bao quanh Khe Sanh ngày một thít chặt, lại thêm những thất bại ban đầu nặng nề trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy của quân và dân ta trên toàn miền Nam, Mỹ phải huy động từ 200 đến 400 máy bay ra ném bom ở khu vực Khe Sanh. Trong khi đó, toàn bộ vùng trời và mặt đất Tà Cơn còn lại nằm trong tầm bắn của các loại súng, pháo các cỡ của quân giải phóng. Chỉ trong 53 ngày đêm chiến đấu đã có 218 máy bay các loại của địch bị bắn rơi và phá hủy.

Để giải vây cho “cụm chiến lược” Khe Sanh, đầu tháng 4-1968, Mỹ đưa 30 nghìn quân, gồm có Sư đoàn Kỵ binh bay Mỹ và lính dù ngụy, mở cuộc hành quân “Ngựa bay” do tướng Mỹ Rốt-xơn chỉ huy. Nhưng trước những đòn tiến công dồn dập và sáng tạo của bộ đội ta, cả bọn đi cứu viện lẫn bọn bị bao vây đều bị đánh tơi bời. Chỉ tính từ ngày 3 đến 15-4-1968, chúng đã bị diệt hơn 3.200 tên (phần nhiều là lính Mỹ), 38 máy bay bị bắn rơi và phá hủy. Trước tình hình đó, cuối tháng 6-1968, Mỹ buộc phải ra lệnh rút quân khỏi Khe Sanh. Nhưng trên đường tháo chạy, địch lại bị ta tấn công gây thiệt hại nặng nề. Trong 7 ngày từ 26-6 đến 1-7-1968, gần 700 tên bị loại khỏi vòng chiến đấu, 9 máy bay bị bắn rơi, nhiều phương tiện chiến tranh bị phá hủy.

Hãng UPI ngày 24-3-1968 xác nhận: “Trong vòng 60 ngày, B52 ném xuống Khe Sanh một lượng bom là 54 nghìn tấn trong ít nhất là 334 lượt bay. Máy bay ném bom chiến thuật cũng đã ném ít nhất là 24 nghìn tấn bom trong 17.731 lượt bay”. Hãng thông tấn AP ( Mỹ) ngày 17-3-1968 phản ánh: “Tinh thần lính Mỹ ở Khe Sanh suy yếu nghiêm trọng. Hai tên không chịu nổi gian khổ đã tự bắn vào mình để được liệt vào danh sách bị thương”. Còn Hãng USIS, ngày 22-3-1968 thì cho rằng: “ở Khe Sanh, hỏa lực của cộng sản có khả năng thủ tiêu hỏa lực của đồng minh (tức là Mỹ và ngụy). Không một loại boong-ke và hầm phòng thủ nào (của lính Mỹ) có thể chống được loại đạn pháo 125 milimét có ngòi nổ đặc biệt của cộng sản”.

Thất bại của Mỹ ở Khe Sanh là thất bại về chiến lược, chiến thuật, thất bại về chính trị, tâm lý với hậu quả vô cùng nghiêm trọng. Thất bại đó không phải là điều bất ngờ mà là một tất yếu phải xảy ra trong tình hình khốn quẫn, nguy ngập của kẻ gieo rắc chiến tranh. Thất bại ở Khe Sanh báo hiệu cho hàng loạt thất bại nặng nề khác của Mỹ trên chiến trường miền Nam.

Thắng lợi to lớn trên Mặt trận Khe Sanh của quân và dân Quảng Trị chứng minh sức mạnh vô địch của chiến tranh nhân dân, chứng minh thế thắng, thế chủ động của ta ở miền Nam và cả nước trong đà Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt như trào dâng, bão cuốn. Cùng với miền Nam, quân dân miền Bắc cũng đánh bại cuộc chiến tranh leo thang bằng không quân của Mỹ, bắn rơi 3 nghìn máy bay các loại, khẳng định quyết tâm: “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”.

Di tích lịch sử: Đôi bờ Hiền Lương


 Di tích lịch sử: Đôi bờ Hiền Lương
Sông Hiền Lương dài gần 100km, nơi rộng nhất 200m, bắt nguồn từ dãy Trường Sơn hùng vĩ, chạy dọc vĩ tuyến 17 từ tây-đông (ranh giới giữa hai huyện Vĩnh Linh và Gio Linh, tỉnh Quảng Trị, đổ ra biển Đông tại Cửa Tùng.
    Cũng bình thường như bao mảnh đất khác ở khắp miền đất nước, song đến khi đế quốc Mỹ biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới của chúng (1954 - 1975) thì dòng sông Bến Hải và mảnh đất đôi bờ trở nên nổi tiếng, được cả nước và thế giới biết đến. Đôi bờ Hiền Lương đã trở thành "nhân chứng lịch sử" trên 20 năm mang trên mình nỗi đau chia cắt đất nước, nơi đã chứng kiến cảnh tang tóc, đau thương nhưng vô cùng anh dũng kiên trung của nhân dân đôi bờ Nam Bắc vì sự nghiệp đấu tranh thống nhất nước nhà. Tại đôi bờ Hiền Lương, cụm di tích gồm: cầu Hiền Lương, sông Bến Hải, cột cờ ở bờ Bắc, nhà Liên hợp, Đồn công an giới tuyến, giàn loa phóng thanh, cụm tượng đài "Khát vọng thống nhất" ở bờ Nam, Nhà Bảo tàng…

Tượng đài “Khát vọng thống nhất” bên bờ Nam cầu Hiền Lương

Cột cờ bờ Bắc cầu Hiền Lương
    Cầu Hiền Lương bắc qua sông Bến Hải tại ki-lô-met 735 trên quốc lộ 1A. Xưa kia, đoạn sông rộng 100m này chỉ có bến phà. Năm 1928, chính quyền phủ Vĩnh Linh huy động dân làm cầu bằng gỗ, cọc sắt rộng 2m dùng cho khách bộ hành. Năm 1950, do nhu cầu quân sự, Pháp cho xây dựng lại cầu bê tông cốt thép dài 162m, rộng 3,6m, tải trọng10 tấn. Năm 1952 Pháp cho xây nâng cấp lần nữa có tải trọng 18 tấn. Cầu này tồn tại 15 năm (1952 - 1967) thì bị bom Mỹ đánh sập.
    Từ năm 1972 đến 1974, để phục vụ chiến trường miền Nam, công trình đã bắc cầu phao dã chiến gần cầu cũ. Đến năm 1979 ta cho xây dựng lại bằng bê tông cốt thép dài 186m, rộng 9m, có hành lang cho ngưòi đi bộ rộng 1,2m, cầu này vẫn còn, mang trong mình ý nghĩa là chiếc cầu thống nhất đất nước. Năm 1996, Bộ Giao thông - Vận tải đã cho xây cầu mới dài 230m, rộng 11,5m nằm về phía tây cầu cũ. Cầu mới được thi công bằng công nghệ đúc đẩy, là cây cầu hiện đại nhất Việt Nam. Hiện nay sông Bến Hải có 2 cầu nối đôi bờ Hiền Lương.
    Tại khu di tích đã phục chế, trưng bày dàn loa phóng thanh của địch đã từng chịu thua dàn loa phóng thanh của ta, gồm 1 chiếc loa cơ động có công suất 500W (đường kính vành loa rộng đến 1,7m) cùng cộng hưởng với một dàn loa khác gồm 20 chiếc, với tổng công suất 7.000W. Mỗi khi dàn loa của ta phát thanh thì đồng bào ở cách bờ Nam 10km vẫn nghe được chủ trương chính sách của Đảng, Bác Hồ, tính ưu việt của chế độ ta. Nhân dân bờ Nam và anh em binh lính Sài Gòn còn được thưởng thức những chương trình văn nghệ đặc sắc như bài: "Câu hò trên bến Hiền Lương" của Hoàng Hiệp, nghe giọng ca đầy truyền cảm của nghệ sĩ Châu Loan:
"Chim xa rừng còn thương cây nhớ cội
Thiếp xa chàng ngày đợi đêm trông.
Trong đồn anh có nhớ em không
Ngoài này em vẫn chờ mong anh về"

Di tích bến Tùng Luật trên cửa biển của sông Bến Hải

Cầu Hiền Lương cũ và mới
    Cũng tại nơi đây, không những đã từng diễn ra "chọi loa" mà còn diễn ra những ngày tháng "chọi cờ". Tính từ năm 1956 đến năm 1967, các chiến sĩ công an giới tuyến đã treo hết 267 lá cờ các cỡ. Lá cờ to áp đảo, cao lớn nhất vĩ tuyến 17 của ta rộng 134m2, nặng 15kg, cao 38,6m. Những năm tháng ấy, cột cờ và lá cờ là biểu tượng của dân tộc đã đứng vững dưới mưa bom bão đạn, nhằm động viên, cổ vũ nhân dân ta trong cuộc đấu tranh sinh tử với Mỹ - Ngụy. Chỉ việc bảo vệ cờ, các chiến sĩ công an đã chiến đấu trên 300 trận, ba lần bắt sống và truy đuổi bọn biệt kích thám báo vượt sông đặt mìn định phá hoại cột cờ.
    Với lòng dũng cảm, với ý chí son sắt của quân và dân ta đã minh chứng trọn vẹn chân lý "Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi". Nhà điện ảnh Thụy Điển Giơ-rit I-ven khi được chứng kiến cũng đã thốt lên : "Vĩ tuyến 17, nơi trưng bày sự man rợ đến tột cùng của đế quốc Mỹ và lòng dũng cảm đến mức thần thánh của nhân dân Việt Nam".
Ngày nay, chiến tranh đã lùi vào dĩ vãng, song quá khứ hào hùng của quân và dân ta ở đôi bờ Hiền Lương sẽ mãi mãi đi vào tiềm thức của dân tộc và bè bạn năm châu. Di tích đôi bờ Hiền Lương mãi mãi đi vào trang sử vẻ vang của dân tộc.
PHẠM HUY TƯỞNG

Căn cứ quân sự Khe Sanh


Căn cứ quân sự Khe Sanh
Vị trí:Khe Sanh nằm trên quốc lộ số 9 thuộc huyện Hướng Hoá, tỉnh Quảng Trị, cách thị xã Đông Hà 63km về phía tây.
Đặc điểm:Năm 1965 - 1966, Quân đội Mỹ và Quân lực Việt Nam Cộng Hòa đã xây dựng Khe Sanh thành cứ điểm lớn nhất trong tuyến phòng thủ đường 9, một tuyến phòng thủ được coi là “bất khả xâm phạm”.

 
Khe Sanh nằm trong một thung lũng đất đỏ cao hơn mặt nước biển 400m, bốn bề là đồi núi trùng điệp. Đây là một trong ba "mắt thần" (Khe Sanh, Làng Vây và Tà Cơn) của hàng rào điện tử McNamara. Tại Khe Sanh đã diễn ra những trận đánh lớn trong chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh năm 1968, chiến dịch Đường 9 - Nam Lào năm 1971. Tổng thống Mỹ Giôn-Sơn đã từng yêu cầu Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân Mỹ ký cam kết bằng máu quyết tâm giữ Khe Sanh.

Cụm căn cứ Tà Cơn với sân bay dã chiến đang lưu giữ nhiều hạng mục về chiến thắng năm 1968: nhà trưng bày, giao thông hào, hầm chỉ huy, hàng rào kẽm gai, đường băng, máy bay, pháo, xe tăng và nhiều hạng mục hạ tầng khác.


Trong một tuần qua trên các báo chí cũng như những diễn đàn đều có post bài dịễn văn nhậm chức của Tổng Thống Barack Hussein Obama thứ 44 của Hoa Kỳ trong đó ông đã nhắc đến điạ danh 'Khe Sanh' vùng cực Bắc Nam Việt. Địa danh Khe Sanh không chỉ có những người lính của hai miền Nam Bắc Việt Nam biết đến mà hầu như những cựu chiến binh Hoa Kỳ đã từng tham chiến ở VN đều không thể quên được trong suốt hơn 42 năm qua.

Trận chiến Khe Sanh một trong những trận chiến lớn nhất thế giới ngang tầm vóc với các trận như Concord , Gettyburg và Normandy .

Một điạ danh nơi đèo heo hút gió đã viết đậm nét trong trang quân sử Hoa Kỳ và Quân Lực VNCH.

Khe Sanh như thế nào mà bài diễn văn nhậm chức của Tổng Thống Hoa kỳ phải nhắc đến và người Việt chúng ta khi nghe đến điạ danh đó đều bùi ngùi xúc động.

Và trong những bài dịch, một số dịch gỉa không biết vô tình hay cố ý đã bỏ sót điạ danh ' Khe Sanh' đã làm cho nhiều người trong cộng đồng bất mãn.

Sau đây tôi xin mượn bài viết của Phạm Cường Lễ ' Khe Sanh 77 ngày trong năm 1968' để chúng ta nhìn lại trang sử Việt và cho những ai chưa từng biết Khe Sanh là gì có cơ hội tìm hiểu Khe Sanh như thế nào?

1. Khe Sanh Bẩy Mươi Bẩy Ngày Trong Một Nghìn Chín Trăm Sáu Mươi Tám

KHE SANH... một địa danh đèo heo hút gió ở vùng cực bắc Nam Việt Nam cách vùng Phi Quân Sự 14 miles (23 km) về phía Nam, và 6 miles (10 km) về phía Đông của vương quốc Làọ Nếu không có chiến tranh, nét yên tĩnh và phong cảnh nơi đây có thể sẽ được kể là một trong những gì đẹp nhất trên lãnh thổ Việt Nam. Nhưng kể từ tháng 5 năm 1959, nét an lành của thiên nhiên tại nơi này bắt đầu bị giao động. Năm đó, bộ đội Bắc Việt thiết lập hệ thống đường mòn Hồ Chí Minh để khởi động công cuộc xâm lăng miền Nam .
Lúc ấy, Khe Sanh chưa phải là căn cứ hay tiền đồn. Nhưng vì nằm gần biên giới và giáp ranh Đường Số 9 --trục lộ giao điểm của ba quốc gia Nam Việt, Bắc Việt, Lào-- nên Khe Sanh đã nghiễm nhiên trở thành một trong những cứ điểm quan trọng nhất trên bản đồ của cuộc chiến Việt Nam.

Đến 1967, các hoạt động của Cộng quân quanh vùng này bắt đầu gặp nhiều khó khăn. Quân đội Hoa Kỳ tăng cường quân số ở vùng nàỵ Họ tu bổ để Khe Sanh để trở thành một tiền đồn kiên cố. Khe Sanh nằm sát biên giới Việt-Lào, cạnh bên Quốc Lộ 9, án ngữ cửa ngõ xâm nhập của Bắc Việt vào Nam Việt Nam ở tỉnh Quảng Trị. Khi Hoa Kỳ tăng cường lực lượng quân sự để giữ Khe Sanh, tướng Võ Nguyên Giáp của Bắc Việt đã có kế hoạch bao vây để biến nơi này thành Điện Biên Phủ của người Mỹ.

Năm 1968, Khe Sanh trở thành một địa danh nổi tiếng nhất nhì thế giới. Nhưng đó chẳng phải vì nổi tiếng qua phong cảnh đẹp nhất, khí hậu trong lành nhất, hoặc có du khách ngoại quốc đến thăm nhiều nhất. Khe Sanh thật sự đã nổi tiếng vì có nhiều trận đánh lớn xảy ra tại vùng này trong hai năm 1967 và 1968.

Năm 1968 là thời điểm mà Khe Sanh được nhắc nhở đến nhiều nhất. Đó là thời điểm của Trận Chiến Tết Mậu Thân khi Việt Cộng mở chiến dịch tổng tấn công trên toàn lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòạ
Trong chiến dịch này, 20,000 bộ đội Bắc Việt đã được huy động để bao vây 6,000 Thủy Quân Lục Chiến cùng khoảng 200 tay súng Biệt Động Quân miền Nam. Nhưng Khe Sanh đã chẳng thất thủ. Trận chiến trận kéo dài 77 ngày với Cộng quân hứng chịu hơn 10,000 tổn thất.

o O o

Nằm trên một vùng cao nguyên rộng lớn, bao quanh bởi núi đồi và cây rừng trùng điệp, Khe Sanh là một căn cứ quân sự vô cùng quan trọng ở tỉnh Quảng Trị.
Năm 1962, căn cứ này được Lực Lượng Đặc Biệt Mũ Xanh (Green Berets) Hoa Kỳ xử dụng đầu tiên làm nơi xuất phát các phi vụ thám thính đi sâu vào vùng đất Làọ Vị trí chiến lược của Khe Sanh do đó đã gây nhiều trở ngại lớn lao cho công cuộc xâm lăng miền Nam của Cộng Sản Bắc Việt.

Năm 1966, Bắc Việt phản ứng mạnh mẽ bằng cách dùng trọng pháo bắn vào Khe Sanh.
Cũng trong năm này, Thủy Quân Lục Chiến (TQLC) Hoa Kỳ có mặt tại Khe Sanh để canh gác và ngăn chận các cu ộc xâm nhập của Cộng Sản Bắc Việt (CSBV) từ bên Làọ
Giữa năm 1967, nhiều vụ chạm súng lẻ tẻ xảy ra quanh khu vực.
Rồi sau đó là các trận chiến lớn dành giật những ngọn đồi được kéo dài đến gần cuối tháng 1 năm 1968 thì chiến trường bùng nổ dữ dộị Ba sư đoàn chính quy Bắc Việt bao vây, pháo kích, và dùng chiến thuật xa-luân-chiến đánh Khe Sanh trong 77 ngàỵ
Như đã nhắc đến ở phần trên, quân Bắc Việt bị đại bại với từ 10,000 đến 13,000 cán binh tử thương (Tom Carhart: Batles And Campaigns In Vietnam, tr.130).
Trong khi đó, lực lượng trú phòng Khe Sanh chỉ bị thiệt hại nhẹ.
Hoa Kỳ có 199 binh sĩ Mỹ chết và 1,600 bị thương.

Về phía Việt Nam Cộng Hòa, tổn thất gồm 34 quân nhân tử trận và 184 thương binh (Nguyễn Đức Phương: Những Trận Đánh Lịch Sử Trong Chiến Tranh Việt Nam, 1963-75, tr.175).


MẶT TRẬN VÙNG KHE SANH NĂM 1967


Vào tháng 3 năm 1967, căn cứ Khe Sanh được phòng thủ vỏn vẹn chỉ bởi một đại đội Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ. Lúc đầu, hỏa lực tại đây chỉ gồm một pháo đội 105 ly, 2 khẩu 155 ly, cùng 2 súng cối loại 4.2 inch.
Lực lượng yểm trợ gồm một đại đội Địa Phương Quân (ĐPQ) và một toán TQLC Hoa Kỳ đóng ở làng Khe Sanh (ngôi làng này cũng tên là Khe Sanh) cách căn cứ chỉ hơn 2 miles (3.5 km). Và tất cả đều được yểm trợ bởi các khẩu pháo binh 155 ly và 175 ly ở hai căn cứ hỏa lực Carroll và Rock Pile gần đó.

Ngày 24 tháng 4 năm 1967, một toán Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ bất ngờ đụng độ với bộ đội Bắc Việt ở một địa điểm về phía Bắc của Đồi 861.
Sau đó tinh tình báo cho biết quân chính quy Bắc Việt đã tập trung đông đảo quân số về vùng nàỵ

Các đơn vị Thủy Quân Lục Chiến lập tức được lệnh tăng cường cho Khe Sanh.

Ngày 25 tháng 4, Tiểu Đoàn 3/3 (đọc là "Tiểu Đoàn 3 thuộc Trung Đoàn 3") TQLC Hoa Kỳ đến Khe Sanh.
Sang ngày hôm sau, Tiểu Đoàn 2/3 TQLC lập tức tăng cường.
Sang đến ngày 27, Pháo Đội B thuộc Tiểu Đoàn 1/12 Pháo Binh có mặt tại căn cứ.

Ngày 28 tháng 4 năm 1967, sau khi được pháo binh yểm trợ, Tiểu Đoàn 2/3 TQLC Hoa Kỳ tiến chiếm Đồi 861.
Cùng lúc đó, Tiểu Đoàn 3/3 cũng mở cuộc tấn công lên Đồi 881.
Đây là những cụm đồi nằm gần Khe Sanh, và đã được quân đội Hoa Kỳ chọn làm những tiền đồn bảo vệ căn cứ. Trong những ngày tiếp đến, lực lượng Cọp Biển Hoa Kỳ lần lượt chiếm hết những cao điểm lân cận: đó là các ngọn đồi 861, 881-Bắc, và 881-Nam.

Ngày 13 tháng 5/1967, Đại Tá J.J. Padley nhậm chức chỉ huy trưởng căn cứ Khe Sanh, thay thế Đại Tá J.P. Lanigan. Lúc đó, lực lượng phòng thủ được tăng cường thêm 3 tiểu đoàn thuộc Trung Đoàn 26 TQLC để thay thế cho Trung Đoàn 3.
Trong khi ấy, từ 24 tháng 4/1967 đến 12 tháng 5/1967, bộ đội Bắc Việt tiếp tục công kích với nhiều màn chạm súng lẻ tẻ.
Các vụ đụng độ này đã gây tử thương cho 155 binh sĩ Hoa Kỳ, nhưng quân Bắc Việt bị thiệt hại nặng hơn với 940 cán binh bỏ mạng.

Mùa Hè 1967, sau khi bị thiệt hại nặng trong một thời gian ngắn (từ cuối tháng 4 đến giữa tháng 5), quân Cộng Sản phải tạm ngưng các hoạt động.
Áp lực quân sự quanh vùng Khe Sanh giảm sút khá nhiềụ Ngày 12 tháng 8/1967, Đại Tá ẸẸ Lownds được chỉ định thay thế Đại Tá J.J. Padley trong chức vụ Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 26 Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ tại Khe Sanh.
Vì tình hình lúc đó đang lắng diệu, hai trong ba tiểu đoàn TQLC của Trung Đoàn 26 Hoa Kỳ được phép rút khỏi căn cứ.
Nhưng tháng 12, Tiểu Đoàn 3/26 nhận lệnh tăng cường cho Khe Sanh.
Tinh tình báo cho biết hoạt động của các lực lượng Cộng Sản đã bắt đầu gia tăng quanh vùng nàỵ


TRẬN CHIẾN KHE SANH TRONG NĂM 1968


Đêm 2 tháng 1/1968, gần hàng rào phòng thủ phía Tây Khe Sanh, một toán Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ đã phục kích và bắn hạ 5 cán bộ Cộng Sản.
Giấy tờ tịch thu cho biết họ là những sĩ quan cao cấp Bắc Việt, trong đó có cả một người giữ chức trung đoàn trưởng. Còn hai người kia là cán bộ cao cấp về ngành truyền tin và hành quân.
Tình báo Hoa Kỳ lo ngại một lực lượng hùng hậu của Bắc Việt đã có mặt tại vùng nàỵ
Khi ấy, Trung Đoàn 26 TQLC tại Khe Sanh lập tức được lệnh phải bổ sung quân số.

Đến ngày 20 tháng 1/1968, một trận đánh dữ dội đã xảy ra trên Đồi 881-Nam
(Ghi Chú: Có hai ngọn đồi mang tên "881", một ngọn nằm về hướng Bắc của Khe Sanh, và ngọn kia nằm về hướng Nam. Xem bản đồ).
Ngọn đồi này được phòng thủ bởi một cánh quân của Tiểu Đoàn 1/3 TQLC Hoa Kỳ, gồm Bộ Chỉ Huy của Đại Đội M, hai trung đội bảo vệ, và toàn thể lực lượng của Đại Đội K. Trong tài liệu Nam, Vietnam 1965-75, Đại Úy William H. Dabney (đại đội trưởng Đại Đội I) cho biết đại đội của ông chỉ huy có vài khẩu bích kích pháo 81 ly, 3 đại bác 105 ly, và hai súng không-giật 106 lỵ

Lúc trời vừa sáng còn dầy đặc sương mù, một toán quân của Đại Đội I lục soát vòng quanh khu vực. Mọi vật trong không gian và thời gian đang lắng đọng yên lành. Nhưng đến trưa khi sương mù tan biến. Nét lặn yên của buổi sáng bị giao động giữ dộị Hai trung đội đi đầu lọt vào ổ phục kích của địch quân. Một rừng đạn đủ loại từ súng cá nhân cho đến vũ khí cộng đồng bay veo véọ Trong vòng chưa đến một phút mà đã có 20 binh sĩ Hoa Kỳ ngã gục. Những người còn lại nằm rạp xuống tránh đạn. Họ vừa bắn trả, vừa gọi máy truyền tin xin hỏa lực pháo binh tiếp cứụ

Các căn cứ hỏa lực quanh vùng lập tức đáp lờị Những khẩu đại bác được quay nòng về hướng Đồi 881-Nam rồi ì ầm tác xạ.
Một rừng đạn pháo bay đến cày nát chiến trường. Bom Napalm từ phi cơ không-yểm ném xuống cản được đợt xung phong của Cộng quân. Toán Cọp Biển bị thiệt hại nặng. Họ lui về vị trí cũ trên Đồi 881-Nam.

Trong khi ấy, hai trung đội Thủy Quân Lục Chiến của Đại Đội M/3/26 (đọc là "Đại Đội M thuộc Tiểu Đoàn 3 của Trung Đoàn 26") được trực thăng vận đến Đồi 881-Nam. Toán quân này chuẩn bị hợp sức với Đại Đội I/3/26 để ngày hôm sau mở cuộc lục soát về hướng Đồi 881-Bắc.

Theo tài liệu của Khe Sanh Veterans Home Page, cuộc hành quân này đưa đến một vụ đụng độ ác liệt dưới chân Đồi 881-Bắc. Lúc ấy, nương vào hỏa lực phi pháo và không yểm, Đại Đội I/3/26 của Đại Úy Dabney đã đánh cho một tiểu đoàn Cộng quân tan tành manh giáp. Trong trận này, Hoa Kỳ mất 7 người, Bắc quân mất 103 (Khe Sanh Veterans Home Page, Time Line).

Ngày 20 tháng 1/1968, một biến chuyển quan trọng bất ngờ xảy r Lúc 2 giờ chiều, một viên trung úy Bắc Việt tên Lã Thanh Tòng thuộc Sư Đoàn 325C đột nhiên ra đầu thú. Trung Úy Tòng cho biết đêm nay Bắc quân sẽ mở cuộc tấn công lên các ngọn Đồi 861 và 881-Bắc.
Ngoài ra, người tù binh cũng tiết lộ rằng hai sư đoàn 304 và 325C của Bắc Việt đã vạch sẵn kế hoạch đánh chiếm căn cứ Khe Sanh.

Đúng như lời khai của Trung Úy Tòng, lúc 12 giờ 30 rạng ngày 21 tháng 1/1968, Cộng quân dùng đại bác bắn vào Đồi 861.
Trước hết, kho chứa đạn của Thủy Quân Lục Chiến ở trên đồi trúng đạn pháo kích rồi nổ tan.
Kế đến, lực lượng Cộng Sản gớm 300 cán binh chuẩn bị xung phong lên đồị
Nhưng Đại Đội K/3/26 biết trước. Họ gờm súng chờ đợị. Trận đánh kéo dài đến 5 giờ 30 sáng, Cộng quân rút lui để lại 47 xác. Phía bên Đại Đội K/3/26 có một binh sĩ tử trận.

Trong khi ấy ở căn cứ Khe Sanh, quân trú phòng luôn chú tâm theo dõi các diễn biến trên Đồi 861. Khi trận đánh kết thúc gần 6 giờ sáng, họ nghe nhiều tiếng "depart" từ xa vọng lạị Bầu trời đột nhiên đổ cơn mưạ Những hạt mưa to bằng sắt thép với đường kính từ 81 đến 130 lỵ

Khi quả đạnh đầu tiên lao vào căn cứ, những người lính tại Khe Sanh lập tức xuống hầm. Một số khác co lại trong giao thông hàọ Tay họ ôm nón sắt, và miệng đếm theo tiếng nổ của đạn pháo binh.
Trong phút chốc, kho chứa đạn khổng lồ trong căn cứ với 1,500 tấn đã phát nổ tan tành.
Phi đạo ở Khe Sanh với chiều dài 3,900 feet (1,188 m) bị cày xới lung tung, bị rút ngắn lại chỉ còn 2,000 feet (609 m). Thế mà ngày hôm đó một vài chiếc vận-tải cơ của Hoa Kỳ cũng xuống phi đạo để mang các kiện hàng cho binh sĩ ở Khe Sanh.

Ngày 22 tháng 1/1968, tình hình nguy ngập. Tiểu Đoàn 1 TQLC Hoa Kỳ đến tăng cường Khe Sanh. Đây là một đơn vị thuộc Trung Đoàn 9. Họ đã nổi danh trong trận đánh tại Côn Thiện (Cồn Tiên) gần vùng phi quân sự vào năm 1967 vừa quạ

Ngày 26, một lực lượng tăng viện khác được không vận vào Khe Sanh. Đó là Tiểu Đoàn 37 Biệt Động Quân của Đại Úy Hoàng Phổ. Đây là một đơn vị bộ chiến già dặn, đầy gan lì và kinh nghiệm của Việt Nam Cộng Hòạ Trách nhiệm của họ là tạo vòng đai phòng thủ tại khu vực ở hướng Đông ở căn cứ Khe Sanh.


CÁC DIỄN BIẾN CHÁNH YẾU TRONG TRẬN CHIẾN TẠI KHE SANH


- 20 tháng 1 Đụng độ mạnh giữa Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ và bộ đội Bắc Việt trên Đồi 881-Nam. Hai bên đều thiệt hại nặng. Trong ngày này, một Trung Úy Bắc Việt ra đầu thú và đã cho biết kế hoạch tấn công của Cộng quân vào căn cứ Khe Sanh.

- 21 tháng 1 Cộng quân pháo kích vào Khe Sanh. Kho đạn trong căn cứ nổ tung, phi đạo bị hư hạị Đồi 861 bị pháo kích, nhưng các binh sĩ Hoa Kỳ trên đồi đẩy lui cuộc tấn công của bộ đội Bắc Việt.

- 22 tháng 1 Căn cứ Khe Sanh được tăng viện bởi Tiểu Đoàn 1/9 TQLC Hoa Kỳ.

- 26 tháng 1 Tiểu Đoàn 37 Biệt Động Quân VNCH của Đại Úy Hoàng Phổ đến Khe Sanh. Đây là lực lượng tăng viện sau cùng trong khoảng thời gian căn cứ bị bao vâỵ

- 30 tháng 1 Cộng Sản mở chiến dịch "Tổng Công Kích - Tổng Khởi Nghĩa" trên toàn lãnh thổ Nam Việt Nam. Nhiều thị xã bị tấn công, trong đó có Huế và Saigon là hai thành phố xảy ra những vụ đụng độ lớn nhất.

- 6 tháng 2 Đêm 6 tháng 1/1968, bộ đội và chiến xa Bắc Việt tấn công Trại Lực Lượng Đặc Biệt ở Làng Vei, cách Khe Sanh 6 miles (10 km) về hướng Tâỵ Ngày hôm sau, Làng Vei thất thủ.

- 9 tháng 2 Một trận kịch chiến xảy ra trên Đồi 64, quân Cộng Sản để lại 134 xác chết. Phía bên Hoa Kỳ có 26 binh sĩ TQLC tử thương.

- 11 tháng 2 Hai vận tải cơ C-130 đáp xuống Khe Sanh. Một chiếc nổ tung vì trúng đạn pháo kích. Chiếc còn lại gấp rút được sửa chữa rồi bay "khập khễnh" về phi trường Đà Nẵng bình an.

- 21 tháng 2 Bắc Việt tấn công vào vòng đai phòng thủ tại khu vực hướng Đông ở Khe Sanh. Nhưng không chọc thủng được bức tường phòng thủ kiên cố của Biệt Động Quân VNCH.

- Tháng 2-3 Từ tháng 2 đến cuối tháng 3, cường độ pháo kích của Cộng quân tại Khe Sanh quá ác liệt. Phương pháp tiếp tế duy nhất là móc các kiện hàng vào những cánh dù rồi thả xuống từ các vận tải cơ trên vòm trờị

- 23 tháng 2 Cộng quân bắn 1,300 quả đạn đại bác vào Khe Sanh. Trận địa pháo kéo dài 8 tiếng đồng hồ. Mười (10) quân nhân Hoa Kỳ bị thiệt mạng, 51 người khác bị thương.

- 29 tháng 2 Bộ đội Bắc Việt mở cuộc tấn công ác liệt vào vòng đai phòng thủ ở phía Đông căn cứ, nhưng gặp phải mức kháng cự mãnh liệt của Tiểu Đoàn 37 Biệt Động Quân. Cả ba đợt xung phong của Cộng quân bị đẩy luị Họ để lại 70 xác chết trên trận địạ

- 1 đến 15 tháng 4 Ngày 1 tháng 4/1968, cuộc hành quân PEGASUS (của quân đội Mỹ) và LAM SƠN 207 (của quân đội VNCH) được tiến hành. Chiến dịch kết thúc vào ngày 15 tháng 4/1968. Căn cứ Khe Sanh hoàn toàn được giải tỏạ


Tổn Thất: Hoa Kỳ: 199 tử thương, 1,600 bị thương,
Việt Nam Cộng Hòa: 34 tử thương, 184 bị thương,
Cộng Sản Bắc Việt: 10,000 đến 13,000 tử thương.

Lúc ấy, ngoài 6,000 TQLC Hoa Kỳ và một tiểu đoàn thiện chiến Biệt Động Quân Việt Nam, Khe Sanh lại được phòng thủ bởi hỏa lực pháo binh riêng biệt gồm một pháo đội súng cối 106 ly, 3 pháo đội đại bác 105 ly, và một pháo đội đại bác 155 lỵ
Về thiết giáp, Khe Sanh có 5 xe tăng loại M-48 và 2 chi đội chiến xa M-50 Ontos với 6 khẩu đại bác 106 ly trên mỗi chiếc.
Về hỏa lực yểm trợ quanh vùng, Khe Sanh nằm trong tầm tác xạ của 4 pháo đội đại bác 175 ly từ căn cứ Rock Pile và 3 pháo đội 175 ly từ căn cứ Carroll.

Phía bên kia, lực lượng Cộng Sản cũng hùng hậu không kém:
Tướng Võ Nguyên Giáp lúc ấy nắm trong tay ít nhất 3 sư đoàn. Ngoài ra, ông còn có thêm một số đơn vị biệt lập hỗ trợ khác. Các đơn vị Cộng Sản được ghi nhận như sau:

- Sư Đoàn 325C CSBV đóng quân về phía Bắc của Đồi 881 Bắc
- Sư Đoàn 304 CSBV (xuất phát từ bên Lào) đóng quân về phía Tây Nam của Khe Sanh
- Một trung đoàn thuộc Sư Đoàn 324 CSBV đang có mặt ở gần vùng phi quân sự, cách Khe Sanh 15 miles (24 km) về hướng Tây Bắc
- Sư Đoàn 320 CSBV giữ vị trí về phía Bắc của căn cứ hỏ a lực Rock Pile
Ngoài ra, Cộng Sản huy động thêm
- một đơn vị Thiết Giáp với chiến xa T-54 cùng
- hai trung đoàn 68 và 164 Pháo Binh
Ngày 30 tháng 1/1968, Cộng Sản phát động chiến dịch Tổng Công Kích - Tổng Khởi Nghĩa (thường được gọi là cuộc Tổng Công Kích Tết Mậu Thân) trên toàn lãnh thổ miền Nam Việt Nam. Tại những thành phố lớn, các đơn vị Việt Cộng cố các trận đánh lớn để gây tiếng vang. Nhưng gần Khe Sanh, tình hình tương đối yên tĩnh. Nhưng sự yên tĩnh chỉ kéo dài được 6 ngàỵ

- Hôm 5 tháng 2/1968, tiếng súng khởi sự nổ trên đồi 861Ạ Một tiểu đoàn Việt Cộng (thuộc Sư Đoàn 325) mở cuộc tấn công. Địch quân chiếm một phần tại vòng đai phía Bắc trong khu vực trách nhiệm của Đại Đội E/2/26. Nhưng sau đó, Bắc quân bị đánh bật trở ra trong một cuộ c phản công quyết liệt của các binh sĩ Cọp Biển. Tổng kết trận đánh có 7 quân nhân Mỹ tử trận, phía bên kia Cộng quân thiệt mất 109 cán binh (Khe Sanh Veterans Home Page: Time Line).

- Ngày 6 tháng 2/1968, quân Cộng Sản đánh vào trại Lực Lượng Đặc Biệt ở Làng Vei, nằm gần Khe Sanh chừng 6 miles (10 km) về hướng Tâỵ Quân Bắc Việt có cả chiến xa PT-76. Và đó cũng là lần đầu tiên Thiết Giáp Bắc Việt trực tiếp lâm chiến tại miền Nam . Do Nga Sô chế tạo và cung cấp cho Cộng Sản miền Bắc, các xe PT-76 chạy trên xích sắt, được trang bị nòng súng 76 ly, và có khả năng lội nước. Tuy vỏ bọc bên ngoài tương đối mỏng, nhưng độ cứng của thép cũng đủ để ngăn chận các loại đạn trung liên từ 7.62 ly trở xuốn g.

Trong trận Làng Vei, 11 chiến xa PT-76 của Cộng quân dẫn đầu. Theo sau là một tiểu đoàn bộ đội yểm trợ. Đây là một đơn vị thuộc Trung Đoàn 66 dưới quyền điều động của Sư Đoàn 304.
Trận đánh tại Làng Vei kéo dài chỉ một ngày. Chín (9) trong số 11 chiếc PT-76 bị tiêu diệt, nhưng quân trú phòng không ngăn nổi trận biển người của đối phương.
Chết trong trận này gồm hơn 200 binh sĩ Dân Sự Chiến Đấu Việt Nam cùng 10 trong số 24 sĩ quan cố vấn Hoa Kỳ.

Ngày 9 tháng 2/1968, một tiểu đoàn Bắc Việt tấn công (tiểu đoàn này thuộc Trung Đoàn 101D của Sư Đoàn 325) Đồi 64 do Đại Đội A/1/9 Cọp Biển trấn giữ. Các vị trí phòng thủ trên đồi bị Bắc quân tràn ngập. Trong tình huống nguy cập, các binh sĩ TQLC liên lạc xin phi pháo yểm trợ. Không chút chậm trễ, các khẩu đại bác quanh vùng đều nhắm hướng Đồi 64 và tác xạ. Khi ấy, một lực lượng TQLC khác được lệnh phải đến tiếp viện Đồi 64. Trong 3 tiếng đồng hồ máu lửa này, có 150 bộ đội Bắc Việt chết và 26 binh sĩ Hoa Kỳ tử thương.

Sau trận đánh ở Đồi 64, quân Bắc Việt tạm ngưng các hoạt động để bổ sung quân số. Chiến trường lắng dịu trong hai tuần. Đến 21 tháng 2/1968, căn cứ Khe Sanh lại bị tấn công. Lần này, một đại đội địch quân gây áp lực tại phòng tuyến của Tiểu Đoàn 37 Biệt Động Quân. Nhưng các binh sĩ Mũ Nâu VNCH đã vững vàng cố thủ. Trận này kết thúc mau lẹ. Đợt tấn công của đối phương đã bị Biệt Động Quân bẻ gảỵ

Hai ngày sau, 23 tháng 2/1968, Bắc quân tập trung pháo binh để phục hận. Một nghìn ba trăm (1,300) quả đạn đủ loại đã được bắn vào Khe Sanh (Tom Carhart: Battles And Campaigns In Vietnam, tr.129). Trận địa pháo 8 tiếng đồng hồ này đã làm nổ tung một kho tồn trữ đạn trong căn cứ, gây thiệt mạng cho 10 quân nhân Hoa Kỳ và 51 người khác bị thương.

Đêm 29 tháng 2, mặt trận vây-hãm Khe Sanh chợt bùng nổ với một trận bộ chiến sau cùng:
Chín giờ 30 tối, một tiểu đoàn Cộng quân (thuộc Sư Đoàn 304 CSBV) đánh thẳng vào mặt Đông của Khe Sanh. Đây là khu vực trách nhiệm của các binh sĩ Biệt Động Quân VNCH.

Nhưng sau một màn pháo kích dọn đường, và sau ba lần trận biển-người xung phong, tiểu đoàn Bắc Việt cũng không phá được phòng tuyến thép của lính "rằn ri."
Đêm hôm đó, các binh sĩ Biệt Động Quân bình tĩnh chiến đấu. Họ đợi đối phương xung phong đến thật gần rồi mới kha i hỏa.

Lúc đó trong giao thông hào khói lửa mịt mù. Nón sắt, áo giáp, cài kỹ lưỡng. Súng trường M-16 được gắn lưỡi lê (bayonet). Lựu đạn đeo ở bụng, trước ngực, hoặc choàng vaị Băng đạn sát bên người, ở hông và đầy trong túị Khi Bắc quân tấn công, tiểu đoàn Biệt Động Quân chống trã mãnh liệt. Kinh nghiệm chiến đấu và sự gan dạ của họ chính là một trong các yếu tố quan trọng giúp đẩy lui cả 3 lần xung phong của Bắc quân. Ngày hôm sau, một toán Biệt Động Quân vượt hàng rào kiểm điểm tình hình. Họ đếm được 70 xác chết địch quân trên trận địa.

Trong tác phẩm Battles And Campaigns In Vietnam, Tom Carhart có ghi lại một cách ngắn gọn về trận đánh của Tiểu Đoàn 37 Biệt Động Quân như sau: "Rạng sáng ngày 29 tháng 2/1968, mũi tấn công duy nhất được nhắm vào vòng đai trách nhiệm của Tiểu Đoàn 37 Biệt Động Quân. Khi Cộng quân xung phong đến gần hàng rào, họ bị lính Mũ Nâu chào đón họ bằng một rừng Claymore (mìn chống cá nhân), lựu đạn và súng cá nhân. Địch quân chẳng qua được hàng rào kẽm gai chằng chịt bên ngoàị Bảy mươi (70) xác chết của họ vì vậy đã được xem như như một công cuộc bại thảm nặng nề."

Trong các tài liệu Anh ngữ nói về trận chiến tại Khe Sanh, hầu như các tác giả và ký giả Hoa Kỳ chỉ ghi nhận mức chịu đựng bền bỉ của người lính Thủy Quân Lục Chiến, nhưng ít ai biết đến hoặc nhắc nhở gì về sứ mạng phòng thủ của Tiểu Đoàn 37 Biệt Động Quân.
May mắn thay, công trạng của họ đã được Trung Tướng Phillip Davison nhắc đến trong tài liệu Vietnam At War, The History 1946-75": ".. .[Tướng] Giáp tưởng tấn công vào tuyến phòng thủ của Biệt Động Quân VNCH sẽ dễ dàng hơn là đánh vào những nơi có Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ trấn giữ, nhưng đây không thể gọi là dễ dàng được bởi vì đơn vị Biệt Động Quân VNCH này chính là một đơn vị thiện chiến rất giỏị"

Trận tấn công vào đêm 29 tháng 2 (cho đến rạng ngày 1 tháng 3) là trận tấn công cuối cùng của quân Bắc Việt vào căn cứ. Ngày 1 tháng 4/1968, chiến dịch giải tỏa Khe Sanh bắt đầụ Cuộc hành quân mệnh danh "PEGASUS" (của Mỹ) và Lam Sơn 207 (của Việt Nam Cộng Hòa) được khởi động với sự tham dự của nhiều đơn vị thuộc Sư Đoàn 1 Không Kỵ Hoa Kỳ và Nhảy Dù Nam Việt Nam . Trục tiến quân giải tỏa Khe Sanh được thiết lập dọc theo Quốc Lộ 9.

Vài ngày sau, 8 tháng 4, căn cứ Khe Sanh hoàn toàn được giải tỏạ Giấc mộng tạo dựng một Điện Biên Phủ thứ hai của Võ Nguyên Giáp kể như không thành. Các binh đoàn dưới quyền chỉ huy của ông bị mất từ 10 đến 13,000 bộ độị Nhiều đơn vị bị xóa tên dưới hỏa lực hùng hậu của pháo binh và không yểm.
Sau này, các sách vở về chiến tranh Việt Nam đều có nhiều nhận xét khác nhau về chiến thuật của đôi bên. Một lập luận cho rằng tướng Giáp muốn dụ Hoa Kỳ dồn quân vào Khe Sanh để quân Cộng Sản có thể rãnh tay tấn công các vùng khác. Một lập luận khác lại cho rằng ông Giáp bao vây Khe Sanh với lý do muốn tạo dựng một chiến thắng như Điện Biên để buộc Hoa K ỳ phải nhượng bộ rồi đầu hàng. Trong khi đó, một số tài liệu chiến sử Hoa Kỳ lại nghĩ rằng tướng Westmoreland đã "tương kế tựu kế." Ông mong Cộng quân sẽ tập trung nhiều binh đoàn gần Khe Sanh để ông có thể dùng hỏa lực pháo binh và phi cơ tiêu diệt.

Nhưng lịch sử đã không theo vết xe lăn của Điện Biên Phủ 14 năm về trước. Năm 1968, Hoa Kỳ có đầy đủ phương tiện để phòng thủ, yểm trợ, và tiếp tế Khe Sanh trong 77 ngày, hoặc lâu dài hơn nếu cần thiết. Phía bên kia, Cộng quân đã không chiếm nổi Khe Sanh, mà lại còn bị thiệt mất từ 10 đến 13,000 bộ độị Đó là chưa kể thiệt hại trên các phương diện khác như quân cụ, chiến thuật, cùng hàng ngàn thương binh.

Click vào đây để coi : Video Trận Chiến Khe Sanh