Thứ Năm, 16 tháng 8, 2012

Tạo lập thế trận nghi binh lừa địch và đánh trận then chốt quyết định


Tạo lập thế trận nghi binh lừa địch và đánh trận then chốt quyết định



QĐND - Sau những thắng lợi có ý nghĩa chiến lược trên các chiến trường Đường 9-Nam Lào, Đông Bắc Cam-pu-chia, Tây Nguyên năm 1971… của ta đã làm thay đổi cục diện chiến trường miền Nam. Chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ đã bị thất bại một bước quan trọng. Để giành những thắng lợi có tính quyết định, tháng 5-1971, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương quyết định mở các cuộc tiến công quy mô lớn trên toàn miền Nam trong năm 1972, trên các hướng chiến lược quan trọng là: miền Đông Nam Bộ, Tây Nguyên và Trị-Thiên.

Chiến dịch Bắc Tây Nguyên năm 1972 nhằm tiêu diệt một bộ phận quan trọng chủ lực Quân đoàn 2 và lực lượng tổng dự bị chiến lược của địch, giải phóng Đắc Tô-Tân Cảnh và thị xã Kon Tum; bảo vệ tuyến đường vận chuyển chiến lược, mở rộng vùng căn cứ địa hoàn chỉnh Tây Nguyên nối liền với căn cứ địa miền Đông Nam Bộ. Chiến dịch còn nhằm phối hợp chặt chẽ với chiến trường Khu 5 và toàn miền, thu hút kìm giữ một lực lượng lớn quân chủ lực Sài Gòn, tạo điều kiện cho các tỉnh đồng bằng ven biển đẩy mạnh đánh phá “Bình Định”; rèn luyện nâng cao trình độ, khả năng tác chiến hiệp đồng binh chủng quy mô lớn của bộ đội trên mọi loại địa hình.
Lực lượng xe tăng của Mặt trận Tây Nguyên tham gia chiến dịch năm 1972. Ảnh tư liệu.
Phương châm chiến dịch là tích cực, chủ động, kiên quyết liên tục tiến công; kết hợp "hai chân, ba mũi, ba vùng", giữa giải phóng đất đai với tiêu diệt địch, giữa tiến công và nổi dậy giành quyền làm chủ. Chiến dịch vận dụng cách đánh hiệp đồng binh chủng quy mô vừa và lớn là chủ yếu, kết hợp với đánh nhỏ rộng rãi của ba thứ quân, đánh độc lập của các binh chủng; coi trọng đánh địch trong và ngoài công sự, lấy đánh địch ngoài công sự là chủ yếu. Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên xác định phải đánh chắc thắng, táo bạo, đánh nhanh, đánh liên tục, bất ngờ, chớp thời cơ, tạo đột biến lớn, giành thắng lợi nhanh chóng; kết hợp tác chiến với xây dựng, củng cố và phát triển lực lượng, xây dựng hậu phương, phát triển sản xuất.
Chiến dịch Bắc Tây Nguyên diễn ra trong thời gian từ ngày 30-3-1972 đến ngày 5-6-1972. Thắng lợi chiến dịch làm thay đổi cục diện chiến trường Tây Nguyên, góp phần vào việc phát triển thế và lực của chiến tranh cách mạng miền Nam trong cuộc tiến công chiến lược năm 1972. Trong chiến dịch này, Bộ tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên đã tổ chức tạo lập thế trận, nghi binh điều địch ra khỏi công sự để tiêu diệt địch hợp lý. Sau khi phát hiện ta làm đường cơ động qua phía đông sông Pô Cô, ngày 7-3-1972, địch đưa Lữ đoàn 2 dù từ Nam Bộ ra đóng ở dãy điểm cao phía tây sông Pô Cô (tây bắc thị xã Kon Tum) để lập tuyến phòng thủ dự phòng phía tây đường số 14, ngăn chặn ta từ xa. Để tạo thế chiến dịch, từ ngày 23-3-1972, ta bí mật mở một con đường dài gần 100km để vận chuyển gạo, đạn đến vị trí tập kết, chuẩn bị gỗ để xây dựng trận địa vây ép địch. Công binh làm đường vào cách vị trí địch 5-6km bảo đảm cho xe tăng và pháo cơ giới cơ động trên hướng vu hồi chiến dịch. Bộ tư lệnh chiến dịch sử dụng một sư đoàn tiến công vào tuyến phòng thủ của địch ở phía tây sông Pô Cô; sau đó tiến vào bao vây Võ Định, đồng thời sử dụng hai trung đoàn bộ binh phối hợp với lực lượng vũ trang địa phương cắt đường 14 (đoạn nối liền thị xã Kon Tum với Plei-cu) và đường 19, thực hiện bao vây, chia cắt chiến dịch. Đặc công và pháo binh tập kích các trận địa pháo địch, làm cho địch trên dưới đều bị đánh, giao thông tê liệt, không tiếp cứu được nhau. 
Để nghi binh phân tán địch, ta sử dụng một trung đoàn đẩy mạnh hoạt động nghi binh thu hút địch ở phía bắc Đắc Tô, tạo điều kiện cho hai trung đoàn khác chuẩn bị tiến công căn cứ sở chỉ huy Sư đoàn 22 và sở chỉ huy Trung đoàn 42 của Quân đội Sài Gòn ở Tân Cảnh. Ta sử dụng một lực lượng công binh mở hai tuyến đường cơ giới vừa giả vừa thật về phía đông và phía nam khu vực phòng ngự của địch, hướng địch có nhiều sơ hở, ít phòng bị, buộc địch phải đưa chủ lực Quân đoàn 2, lữ đoàn dù thuộc lực lượng tổng dự bị chiến lược ra đối phó. Ta đã thành công giam chân được hai lữ đoàn dù ở đó cùng với Sư đoàn 23 địch, tạo điều kiện thuận lợi cho trận đánh chiếm Đắc Tô-Tân Cảnh.
Chiến dịch Bắc Tây Nguyên đã vận dụng nghệ thuật tác chiến hiệp đồng binh chủng trên quy mô tương đối lớn, là bước phát triển mới của nghệ thuật quân sự trên chiến trường rừng núi Tây Nguyên, trong đó Bộ đội Tăng-Thiết giáp đã phát huy được sức mạnh đột kích trong những trận đánh công sự vững chắc. Để thực hiện mục đích chiến dịch, ta đã sử dụng và hiệp đồng chặt chẽ các đơn vị bộ binh với binh chủng, nhất là lực lượng tăng-thiết giáp. Chiến dịch còn kết hợp đột phá có trọng điểm vào khu vực phòng ngự, vừa tiêu diệt địch trong công sự, vừa diệt địch ngoài công sự, kết hợp đánh vận động và đánh trận địa. Ta đã vận dụng thành công ở thời kỳ đầu, đây là phương thức tác chiến tập trung của các binh đoàn chiến dịch binh chủng hợp thành. Phương thức tác chiến này là lấy thực hành đột phá đánh chiếm tuyến phòng ngự bên ngoài hoặc vòng qua các cứ điểm bên ngoài đánh vào các cứ điểm bên sườn và bên trong, kết hợp với thọc sâu, tiêu diệt từng bộ phận quân địch ở bên trong. Trong chiến dịch Bắc Tây Nguyên ta thực hành đánh chiếm các đường giao thông, chia cắt thế trận địch, phá thế liên hoàn của chúng, hạn chế, không cho địch phản kích ứng cứu bằng đường bộ, cô lập các cụm quân của địch để tạo thế cho ta thực hành đột kích, đánh chiếm trận địa phòng ngự, đánh chiếm căn cứ, cụm cứ điểm của địch, thắng lợi nhanh gọn.
Bài học và nghệ thuật tác chiến chiến dịch Bắc Tây Nguyên còn nguyên giá trị, đòi hỏi chúng ta tiếp tục nghiên cứu phát triển, vận dụng sáng tạo trong điều kiện mới để huấn luyện bộ đội, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Đại tá Đào Văn Đệ






“Tôi đã chắp bút Kế hoạch nghi binh”


“Tôi đã chắp bút Kế hoạch nghi binh”




Đầu tháng 11-1973, đồng chí Khuất Duy Tiến đang là Trung tá, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 64 (Sư đoàn 320) thì được cấp trên điều về làm Tham mưu phó Sư đoàn 320. Nhậm chức ở Sư đoàn chưa được một tuần, ông lại có quyết định về vị trí mới: Trưởng phòng Tác chiến Mặt trận B3. Gần 40 năm trôi qua, người cán bộ tác chiến ngày ấy nay đã bước sang tuổi 82, song ký ức chiến trường trong những tháng ngày sát cánh cùng đồng đội ở Mặt trận Tây Nguyên như vẫn còn vẹn nguyên trong ông…
Trung tướng Khuất Duy Tiến.
Về Phòng Tác chiến Mặt trận B3 khoảng nửa tháng thì tôi được cử ra Hà Nội dự tổng kết chiến dịch Tây Nguyên năm 1972 và nhận kế hoạch chuẩn bị phương án tác chiến trong các năm 1975-1976. Theo kế hoạch ban đầu, Mặt trận B3 được Bộ giao nhiệm vụ mở thông con đường vận tải nối giữa Tây Nguyên với miền Đông Nam Bộ, tức là chỉ “vén” địch ra để xây dựng một con đường vận tải chiến lược. Phòng Tác chiến Mặt trận đã tham mưu, đề xuất xây dựng kế hoạch mang tên “Chiến dịch tháng 2-1975” với các mục tiêu tấn công vào Thuần Mẫn, Đức Lập, Gia Nghĩa… nhằm mở thông con đường vận tải ấy. Nhưng do tình hình thay đổi, sau chiến thắng Phước Long, Trung ương đánh giá Mỹ không có khả năng can thiệp, phương án tác chiến trong năm 1975 hướng tấn công chính sẽ là các thành phố, thị xã. Thế là từ tháng 10-1974, khi vừa hoàn chỉnh xong kế hoạch tác chiến cho “Chiến dịch tháng 2-1975”, tôi lại cùng anh em trợ lý bắt tay vào xây dựng một kế hoạch khác.
Trước lúc làm kế hoạch mới, tôi có hỏi đồng chí Vũ Lăng (khi đó đang là Tư lệnh Mặt trận) xem có cần thay đổi tên kế hoạch không, Tư lệnh Vũ Lăng bảo: “Cứ đề là “Kế hoạch tháng 2-1975” rồi thay nội dung khác là được”, anh còn gợi ý: “Các cậu cần tính để ta có thể xây dựng phương án đánh Buôn Ma Thuột trong trường hợp địch không có phòng ngự dự phòng, chỉ “chọi” với Trung đoàn 53 của địch đang chốt tại đó”. Phương án nghi binh được Bộ tư lệnh đưa ra họp bàn với anh em các bộ phận, sau đó cấp trên giao nhiệm vụ cho Phòng Tác chiến chúng tôi xây dựng kế hoạch.
Bản thảo “Kế hoạch nghi binh 10-1974” của Trung tướng Khuất Duy Tiến đang được lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự.
Tháng 10-1974, sau hai tuần soạn thảo, kế hoạch nghi binh do tôi viết tay trên 10 trang giấy pơ-luya chính thức được Tư lệnh Vũ Lăng thông qua. Đồng chí Vũ Lăng còn cẩn thận dặn tôi: “Cậu nhớ giữ kín nhé, trước mắt là chỉ mình với cậu biết thôi đấy!”. Nội dung kế hoạch “Nghi binh 10-1974” được tiến hành trên 4 hướng gồm: Hướng bắc, đông bắc thị xã Kon Tum; hướng tây, tây nam thị xã Kon Tum; hướng đường 19 An Khê và hướng tây Plây-cu. Tham gia vào kế hoạch nghi binh ngoài lực lượng tại chỗ được bố trí ở các hướng còn có một bộ phận chuyên làm nhiệm vụ nghi binh gồm hai máy 15W của Trung đoàn thông tin cùng hai tổ cơ yếu, trong đó một máy làm nhiệm vụ đóng giả một sư đoàn mới vào, một máy đóng giả Sở chỉ huy tiền phương của B3. Dĩ nhiên, kế hoạch nghi binh chỉ được phổ biến đến Thủ trưởng Phòng Tham mưu và các bộ phận cơ quan trực tiếp làm, còn các đơn vị thực binh tuyệt đối không được biết. Chính vì thế mà một lần đồng chí Thanh Sơn, Sư đoàn trưởng Sư đoàn 968 đã hỏi tôi: “Anh Tiến này, sư đoàn của tôi nhận nhiệm vụ đánh thật hay đánh giả đấy?”, tôi nghiêm giọng: “Thật chứ, sao lại có chuyện đánh giả ở đây!”…
Kế hoạch nghi binh được chúng tôi gọi tắt là kế hoạch B. Các đơn vị được phổ biến quy định là khi nhận kế hoạch tác chiến mà có chữ “kế hoạch B” thì chỉ huy đơn vị cần lưu ý… không làm theo. Chẳng hạn Sư đoàn 10 nhận nhiệm vụ hành quân cơ động trong “kế hoạch B”, nhưng thực tế cả sư đoàn vẫn đóng quân tại chỗ để nghi binh địch.
Chúng tôi bắt đầu triển khai việc nghi binh từ giữa tháng 11-1974 và trong khoảng thời gian 4 tháng (từ tháng 11-1974 tới đầu tháng 3-1975) địch bị phía ta đưa vào “ma trận” với thật giả lẫn lộn. Có một lần ta di chuyển “thật” mà bị chúng “đánh hơi” được, đó là giữa tháng 2-1975, địch hay tin Sư đoàn 320 và Sư đoàn 10 của ta đã di chuyển xuống phía nam Tây Nguyên, chúng liền điều Trung đoàn 45 từ Kon Tum xuống lùng sục dọc đường 14. Biết Sư đoàn 320 có nguy cơ bị lộ, Bộ tư lệnh Mặt trận quyết định cho sư đoàn lui quân để giữ bí mật và tôi đã trực tiếp thảo một bức điện rồi tới đưa tận tay Sư đoàn trưởng Kim Tuấn chứ không sử dụng máy 15W.
Lược đồ chiến dịch Tây Nguyên (từ ngày 4-3 đến ngày 24-3-1975). Ảnh: Lê Trung Nguyên
Những ngày làm việc ở cơ quan tác chiến trong thời kỳ diễn ra Chiến dịch Tây Nguyên đã rèn cho tôi một thói quen “ngủ tranh thủ” vào bất kỳ giờ nào, bởi hồi đó công việc hằng ngày luôn tất bật, tối đến, các đơn vị mới có điện báo về, tôi phải nắm hết nội dung cơ bản của các bức điện, rồi triển khai nội dung chỉ đạo cho các đơn vị ngay trong đêm. 12 giờ đêm, tôi bắt đầu đọc các bức điện do anh em Trợ lý Tác chiến tổng hợp, sau đó đề xuất với cấp trên. Xong nội dung này thì cũng khoảng 1-2 giờ, và đúng 4 giờ 30 hằng ngày Phòng Tác chiến phải tổ chức giao ban, kết thúc cuộc giao ban phòng là kịp tới giao ban Bộ tư lệnh vào lúc 6 giờ. Có hôm cuộc giao ban của Bộ tư lệnh tới 8 giờ mới xong. Lúc đó, những bức điện quan trọng do cấp trên triển khai tôi phải trực tiếp soạn, còn lại do anh em trợ lý đảm nhiệm. Ngày nào công việc cũng căng như vậy, trong khi chiến dịch kéo dài tới hàng tháng, vì thế mà tôi phải tự rèn cho mình một thói quen tranh thủ chợp mắt vào bất cứ giờ nào, dù thời gian ngủ chỉ là 5-10 phút…
Trong thời gian ấy, tôi có một kỷ niệm khó quên với chiến sĩ cần vụ tên là Lưu Đình Thiều. Thiều quê ở Ân Thi, Hưng Yên và đã ở cùng từ khi tôi còn là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 64. Ở chiến trường việc ăn uống rất kham khổ, có lúc tiêu chuẩn hằng ngày chỉ có 2,5 lạng gạo/người, trong khi Thiều khá to cao nên thường xuyên bị đói. Tôi vốn ăn ít, có ngày mải việc, tôi chỉ cần ăn vài chiếc kẹo, vì thế mà tôi thường hay nhường suất cơm của mình cho người chiến sĩ cần vụ. Thiều cũng rất thật thà, chịu khó. Một tối, tôi đang ngồi nghiên cứu bản đồ trong phòng làm việc thì Thiều mang đến hai miếng dứa nhỏ bằng hai ngón tay. Thiều đưa cho tôi một miếng. Tôi hỏi: “Dứa ở đâu ra thế?”. Thiều giấu không nói, nhưng gặng mãi, Thiều mới thật thà kể là dứa của anh em đi trinh sát trận địa mang về. Tôi nghiêm giọng, bảo: “Lấy của dân phải không? Đã trót rồi thì thôi, nhưng từ nay không được thế, mình phải gương mẫu để anh em chiến sĩ noi gương chứ”. Biết mình sai, Thiều im lặng, rơm rớm nước mắt... Sau ngày Buôn Ma Thuột giải phóng, Thiều nhận nhiệm vụ đi cùng đồng chí Mẫn - Trưởng ban Bản đồ vào thị xã thu gom bản đồ và một số tài liệu, vật dụng cần thiết cho cơ quan tác chiến. Đâu ngờ, trong chuyến đi ấy, Thiều hy sinh...
Chiến dịch Tây Nguyên thắng lợi, tổng kết lại mới thấy việc nghi binh đã được anh em các đơn vị phối hợp thực hiện rất tốt. Trong khi ta điều hai sư đoàn chủ lực là Sư đoàn 10 và Sư đoàn 320 từ bắc Tây Nguyên xuống nam Tây Nguyên, Sư đoàn 316 cũng được điều từ miền Bắc vào nam Tây Nguyên thì địch vẫn tin rằng Quân Giải phóng sẽ đánh vào bắc Tây Nguyên, do đó ta đã thu hút một lực lượng lớn của địch lên phía bắc Tây Nguyên, đồng thời bao vây, cô lập Buôn Ma Thuột để có được thắng lợi trong trận then chốt.
Khi đất nước thống nhất, 10 trang giấy pơ-luya kế hoạch “Nghi binh 10-1974” đã được tôi lưu giữ làm kỷ niệm trong suốt 35 năm, cho tới khi kỷ vật ấy được tôi đem tặng Bảo tàng Lịch sử Quân sự ngày 11-2-2009…
Trung tướng Khuất Duy Tiến: “Sau này, tôi có về Hưng Yên để tìm hiểu gia cảnh và công tác chính sách đối với người cần vụ của mình, nhưng chẳng ai nắm rõ về liệt sĩ Lưu Đình Thiều. Tôi chỉ biết Thiều quê ở thôn Lưu Xá, xã Hồ Tùng Mậu (Ân Thi, Hưng Yên). Gần 40 năm trôi qua, mỗi khi nhớ lại những giọt nước mắt ân hận của Thiều trong buổi tối ngoài mặt trận, tôi lại thầm trách về sự nghiêm khắc của mình và luôn canh cánh một nỗi niềm: Không biết Thiều đã “trở về” quê hương chưa, hay từng ấy năm anh vẫn còn nằm lại cánh rừng cao su giữa đại ngàn Tây Nguyên?”.
Trung tướng Khuất Duy Tiến kể,Tuệ Minh ghi

Hồi tưởng của người quyết định nổ súng “mở màn “trận Quảng Trị“


Hồi tưởng của người quyết định nổ súng “mở màn “trận Quảng Trị“


Kỷ luật, mệnh lệnh của cấp trên phải được cấp dưới chấp hành một cách tuyệt đối và được coi như là một yếu tố quyết định sự thắng bại của trận đấu. Nhưng trong một trận đánh, người tiểu đoàn trưởng Nguyễn Huy Hiệu (sau này là Thượng tướng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng) quyết định nổ súng trước giờ “G” khi chắc rằng, chiến thắng này có lợi cho toàn chiến dịch…
Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Huy Hiệu (thứ 3 từ trái qua) vạch kế hoạch chiến đấu tại Quảng Trị năm 1972
Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Huy Hiệu (thứ 3 từ trái qua) vạch kế hoạch chiến đấu tại Quảng Trị năm 1972
Nhiệm vụ khó khăn
Tướng Hiệu tự bạch, tư duy chỉ huy, sự quyết đoán của ông được kiểm nghiệm từ thực tế. Tất cả những quyết định của ông đã được thực tế khốc liệt từ những trận đánh “một mất một còn” chứng minh. Ông đã hơn một lần khẳng định, chiến thắng trong mỗi trận đánh là nhờ tinh thần quả cảm của chiến sỹ và cái đầu sáng suốt của người chỉ huy.
Hồi tưởng về 40 năm trước, ông kể: “Năm 1971, quân ta đã giáng những đòn quyết định đối với địch tại Đường 9 - Nam Lào. Từ đầu năm 1972, chỉ thị của cấp trên và Tư lệnh Mặt trận B5 đã được phát đi, “Đánh mạnh trên khắp chiến trường, tiến tới giải phóng Quảng Trị, xoay đổi cục diện cuộc chiến tranh”. Nhiệm vụ của trung đoàn 27 là giải phóng hoàn toàn khu vực 544 (Phu - lơ)”.
Căn cứ Phu - lơ và Đồi Tròn là “con mắt thần” trên tuyến hàng rào điện tử Mác Namara, là cứ điểm cao nhất nằm phía tây bắc Quảng Trị. Trên cứ điểm này, địch bố trí ba dàn ra- đa kiểm soát mọi chuyển động lớn nhỏ của quân ta. Trận địa pháo cối của địch luôn phát huy lợi thế trên cao để bắn phá các trận địa của ta trên toàn tuyến hành lang. Đây cũng là điểm nối của một con đường cho xe tăng lên căn cứ Phu – lơ từ Cam Lộ qua điểm cao 322 và điểm cao 288.
Tướng Hiệu còn nhớ như in lời dặn của tướng Lê Trọng Tấn- Tư lệnh Mặt trận B5: “Đưa tiểu đoàn 3 của Nguyễn Huy Hiệu vào điểm cao 322 và 288 tạo ra sự bất ngờ rất lớn cho địch. Các anh phải chú ý chỉ đạo mũi luồn sâu chia cắt này, chiến đấu đạt hiệu suất cao”.
Nhận lệnh tấn công Phu – Lơ, ai cũng hồi hộp vì ta và địch đã giành giật nhau cứ điểm này nhiều lần. Đây là lần thứ 3 trung đoàn của ông làm nhiệm vụ đánh chiếm cứ điểm này. Khắp ngọn đồi, khe suối xung quanh căn cứ này, biết bao đồng đội của ông đã ngã xuống.
Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu cùng các đại biểu  dâng hương tại Nghĩa trang Đường 9 - Quảng Trị
Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu cùng các đại biểu dâng hương tại Nghĩa trang Đường 9 - Quảng Trị
Thót tim trước giờ “G”
Ngày 26/3/1972, công tác chuẩn bị cho chiến dịch đã cơ bản hoàn thành. Cho đến lúc các binh đoàn chủ lực của ta sẵn sàng bước vào trận quyết chiến chiến lược thì Mỹ - Ngụy vẫn chưa đoán định được hướng nào là hướng chính của cuộc tiến công chiến lược 1972 của ta.
Bộ Tư lệnh chiến dịch quyết định giờ nổ súng tiến công trên toàn mặt trận vào 11h30 ngày 30/3/1972. Rạng sáng hôm đó thì Tiểu đoàn 3 và 2 đại đội tăng cường bí mật tiếp cận, chiếm lĩnh tuyến hành lang từ cầu Thiện Xuân đến điểm cao 322, sẵn sàng chặn đánh sư đoàn 3 Ngụy.
Đến 7h, 2 máy bay của địch đến quần đảo, bắn đạn khói xuống trận địa làm 2 chiến sỹ bị thương. Lúc ấy từ phía Cam Lộ, xe tăng của địch xuất hiện bắn pháo vào đại đội 3. Có ý kiến cho rằng, trận địa của ta đã bị lộ, đề nghị cho đại liên nổ súng. Nhưng khi trực tiếp đi kiểm tra, Tiểu đoàn trưởng Hiệu nhận định “trận địa chưa bị lộ” và lệnh: “Các đại đội tiếp tục chờ đội hình lớn của địch vào đúng trận địa của ta, có lệnh mới nổ súng”.
Thêm một bất ngờ nằm ngoài phương án: Khoảng 9h, tổ trinh sát thấy có một tốp dân đi vào trận địa, phần lớn là người già, trẻ con. Người chống gậy, người cầm dao, người bế con trên tay, mấy tên lính Ngụy đi sau chốc chốc lại chĩa súng vào lưng hăm dọa. Thì ra bọn Ngụy dùng kế hiểm độc: Đưa dân đi trước làm “lá chắn” đề phòng ta phục kích. “Lúc ấy chiến sỹ ta căm hờn lắm, máu ai cũng sôi lên. Tôi đã ra lệnh, trường hợp bị lộ thì phải nổ súng bảo vệ tính mạng của người dân” - tướng Hiệu kể lại.
Thế nhưng quân địch đã không phát hiện thấy trận địa của ta. Khi đã vượt qua trận địa, tưởng đã an toàn nên bọn địch thả người dân ra. Một nhóm chiến sỹ đã bí mật gặp dân và hướng dẫn họ đi vào vùng an toàn.
Quyết định “bạo gan”
10h30, tức là trước giờ dự kiến nổ súng 1 tiếng- thì Tiểu đoàn 3 Ngụy lọt vào trận địa phục kích. Người Tiểu đoàn trưởng băn khoăn: “Địch hành quân rất chủ quan, bộ đội vẫn giữ được bí mật, bất ngờ. Nếu tiêu diệt địch lúc này thì lính Ngụy ở Phu - Lơ sẽ hoang mang, mất tinh thần, tạo thuận lợi cho Tiểu đoàn 2 của ta nhanh chóng dứt điểm”.
Sau ít giây cân nhắc, Tiểu đoàn trưởng Hiệu báo cáo trung đoàn Trưởng qua điện thoại, xin mặt trận cho nổ súng trước giờ G…
Và loạt mìn định hướng khóa đuôi vang lên là lúc 6 khẩu cối 82 ly bắn dồn dập vào đội hình quân địch…
Cùng lúc ấy, lực lượng trên khu vực 322 và 288 cũng tấn công mạnh. Mệnh lệnh của người chỉ huy Nguyễn Huy Hiệu đưa ra là, đánh nhanh gọn, xóa sổ tiểu đoàn 3 của Ngụy, không để địch kịp điều thêm xe tăng gây khó khăn cho trận địa.
Các mũi tấn công đồng loạt bao vây, chia cắt, chặn đường rút lui của địch. Trong trận đánh nhanh thắng nhanh ấy, tiểu đoàn do ông Hiệu làm chỉ huy đã làm chủ hoàn toàn khu vực phía đông nam căn cứ Phu - Lơ và Đồi Tròn, cắt rời thế liên hoàn của các căn cứ Phu - Lơ, Đồi Tròn, Cam Lộ.
Sau này, Tư lệnh chiến dịch - Tướng Lê Trọng Tấn, Chính ủy Lê Quang Đạo và Phó Tư Lệnh Mặt trận Cao Văn Khánh có hỏi “theo dự kiến thì chiến dịch mở màn lúc 11h30, tại sao tiểu đoàn cậu lại nổ súng trước 1 tiếng?.
Tôi đã trả lời: “Trong chiến đấu có những tình huống không thể lường hết được. Tiểu đoàn của địch đã lọt vào trận địa, không đánh sẽ lỡ cơ hội. Tôi đã quyết định đánh và sẵn sàng chịu trách nhiệm về quyết định của mình”. Khi ấy, tướng Lê Trọng Tấn đã ủng hộ quyết định của tôi…”  -tướng Hiệu nhớ lại.
Chiến thắng của đơn vị tiểu đoàn trưởng Hiệu chỉ huy đã mở màn đợt tấn công quyết liệt trên khắp Mặt trận Quảng Trị. Một tháng với 2 đợt tấn công nổi dậy, quân và dân Quảng Trị đã quét sạch hệ thống phòng ngự kiên cố của Mỹ ngụy. Ngày 1/5/1972, Quảng Trị hoàn toàn được giải phóng. Cuối tháng 5/1972, Nguyễn Huy Hiệu được bổ nhiệm chức Trung đoàn phó Trung đoàn 27…
Hồng Hà

Cuộc chiến đấu bảo vệ Thành Cổ Quảng Trị năm 1972, biểu tượng sáng ngời về ý chí quyết chiến, quyết thắng của dân tộc Việt Nam

Cuộc chiến đấu bảo vệ Thành Cổ Quảng Trị năm 1972, biểu tượng sáng ngời về ý chí quyết chiến, quyết thắng của dân tộc Việt Nam 

* TS. TRƯƠNG MINH TUẤN, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương 
Không phải ngẫu nhiên mà ngày nay, khi cuộc chiến đã lùi xa 40 năm nhưng Thành Cổ Quảng Trị nói riêng và thị xã Quảng Trị nói chung trở thành đất hành hương cho bao người hội tụ hàng năm về đây để thắp hương, thả hoa trên dòng sông Thạch Hãn tưởng nhớ hơn một vạn cán bộ, chiến sĩ giải phóng quân đã anh dũng chiến đấu và nằm lại trên mảnh đất này, đỉnh điểm là 81 ngày đêm chiến đấu và bảo vệ Thành Cổ. 

Sự kiện này được bắt đầu từ giữa trưa ngày 30/3/1972 và sau hơn một tháng tấn công dũng mãnh, quân và dân ta đã giải phóng thị xã Quảng Trị vào chiều ngày 1/5/1972. Cờ Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam được kéo lên dinh Tỉnh trưởng chính quyền ngụy. Với chiến thắng đó, ta đã tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, giáng đòn chí tử vào quân đội Sài Gòn (công cụ chủ yếu) và quốc sách “bình định” (xương sống) của chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”. Thắng lợi đó đã tác động to lớn đến cục diện chiến tranh và trên bàn đàm phán ở Paris. Từ đây, bắt đầu 81 ngày đêm bi hùng của quân giải phóng đầy quả cảm với cuộc chiến không cân sức về khí tài đối với kẻ thù ngay trong lòng Thành Cổ. 
Thả hoa tưởng nhớ các anh hùng liệt sĩ trên sông Thạch Hãn
- Ảnh: LÊ BÁ DƯƠNG

Để lấy lại tinh thần và gây sức ép với ta tại Hội nghị Paris, quân ngụy đã dốc toàn bộ lực lượng mở cuộc phản kích tái chiếm Quảng Trị với mục tiêu số một là chiếm lại Thành Cổ. Hỗ trợ cho cuộc phản công ở miền Nam, Mỹ dùng lực lượng không quân, hải quân đánh phá trở lại miền Bắc rất ác liệt. Trong các cuộc phản công, mục tiêu tái chiếm thị xã và Thành Cổ Quảng Trị được Mỹ và chính quyền Sài Gòn đề ra hàng đầu và bức thiết nhất, bởi theo chúng, nơi này được xem là “biểu tượng cho sự đứng vững của Việt Nam cộng hòa trước sự xâm lăng của Cộng sản Bắc Việt”. 

Ngoài ra, việc tái chiếm Thành Cổ Quảng Trị còn nhằm cứu vãn sự sụp đổ của chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, xóa bỏ tâm lý thất bại đang lan tràn trong quân đội, từ đó tạo thế mạnh trên bàn đàm phán Paris trong những vòng đàm phán tiếp theo, mà trước hết là phải chiếm cho được Thành Cổ Quảng Trị trước ngày 10/7/1972 để phục vụ cho cuộc hội đàm tại Paris dự định sẽ diễn ra ngày 13/7/1972 sau nhiều lần trì hoãn. 

Trong cuộc hành quân lấy tên “Lam Sơn 72” bắt đầu ngày 28/6/1972, địch đã huy động phản kích bằng máy bay phản lực, bình quân mỗi ngày 150-170 lần (có ngày 220 lần), 70-90 lần B52, 12-16 lần tàu khu trục hạm và tuần dương hạm thuộc Hạm đội 7 - Thái Bình Dương, hai sư đoàn dự bị chiến lược là sư dù và thủy quân lục chiến, 4 trung đoàn thiết giáp, mỗi trung đoàn có 79 xe tăng và xe bọc thép... Đây là cuộc hành quân hết sức đẫm máu và cực kỳ tàn bạo với đủ loại vũ khí hiện đại, từ bom phá, bom napan, bom lân tinh, bom bi, bom 7 tấn, bom điều khiển bằng lade... đến các loại pháo chơm, pháo khoan, chất độc hóa học và hơi ngạt. 

Về phía ta, sau khi giải phóng hoàn toàn tỉnh Quảng Trị, đã gặp phải những khó khăn to lớn do tổn thất lực lượng, dự trữ đảm bảo hậu cần... Trước âm mưu và hành động mới của địch, Quân ủy Trung ương đã chỉ đạo Bộ Tư lệnh chiến dịch khẩn trương điều chỉnh lực lượng, phương án tác chiến sẵn sàng đánh địch, giữ vững vùng giải phóng để phối hợp chặt chẽ giữa đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị và đấu tranh ngoại giao. 

Thi hành mệnh lệnh, Bộ Tư lệnh chiến dịch đã hạ quyết tâm: “Chuyển từ chiến dịch tiến công sang chiến dịch phản công nhằm tiêu diệt sinh lực địch, giữ vững vùng giải phóng, đánh bại cuộc hành quân của địch và phát triển lúc thời cơ có lợi”. Để chiến đấu bảo vệ thị xã và Thành Cổ Quảng Trị, ta đã sử dụng lúc cao nhất hơn 10 tiểu đoàn bộ binh, 3 tiểu đoàn pháo cao xạ và súng máy phòng không, 3 đại đội xe tăng, thiết giáp, đồng thời có sự chi viện, phối hợp chiến đấu của nhiều sư đoàn, trung đoàn trên chiến trường Quảng Trị. 


Trong lửa đạn khốc liệt ấy, mảnh đất Thành Cổ Quảng Trị với chu vi hơn 2.160 m là “túi bom” của kẻ thù. Chúng huy động tối đa lực lượng, phương tiện để chiếm bằng được Thành Cổ vì đây là địa bàn chiến lược, có thể tạo sức nặng mặc cả với ta tại Hội nghị Paris. Không thể thống kê hết số bom đạn dội xuống mảnh đất này. Các nhà khoa học quân sự ước tính trung bình mỗi chiến sĩ quân giải phóng ở đây phải hứng chịu trên 100 quả bom và 200 quả đạn pháo. Người ta đã ghi nhận được, đêm 4/7/1972, pháo đài bay B52 Mỹ đã ném 4.000 tấn bom; ngày 31/7/1972, khoảng 2 vạn quả đại bác cỡ lớn từ 105-203mm đã nã xuống khu vực thị xã Quảng Trị; ngày 25/7/1972, địch điên cuồng xả vào Thành Cổ khoảng 5.000 quả đại bác. 

Báo chí phương Tây thời bấy giờ bình luận và so sánh số bom đạn Mỹ ném xuống chiến trường Thành Cổ Quảng Trị tương đương sức công phá của 7 quả bom nguyên tử ném xuống Hiroshima và Nagaxaki (Nhật Bản) năm 1945. Bốn dãy tường thành Thành Cổ dày đến 12 m vỡ dần vì bom đạn và chấn động mặt đất. Máu xương của các anh hùng liệt sĩ đã hòa vào lòng đất Thành Cổ, tính ra mỗi ngày có đến một đại đội quân ta hy sinh. 

Thế nhưng, bom đạn không làm sờn lòng những chiến sĩ quân giải phóng, hầu hết đều rất trẻ, tuổi mới mười chín, đôi mươi, là những tân binh, nhiều người trong số đó là học sinh, sinh viên các trường học ở miền Bắc tăng cường cho chiến trường. Các anh đã anh dũng bám trụ giữ từng tấc đất Thành Cổ. Trong một ngày, các chiến sĩ đã phải đánh địch phản kích từ 5-7 lần, có khi 13 lần. Cuộc chiến đấu ở đây đã diễn ra như một huyền thoại và cách đánh cũng vượt ra những qui ước thông thường với những tấm gương quả cảm. Nhiều chiến sĩ như Phan Văn Ba bị đạn pháo làm nát một bàn tay vẫn xin ở lại chiến đấu; chiến sĩ Hán Duy Long dùng trung liên kẹp nách truy kích diệt 58 tên địch, 3 lần bị thương vẫn giữ vững trận địa... Ở đây, khi giao chiến, quân giải phóng phải để lựu đạn xì khói trên tay mới ném, phải trèo lên tường cao ném xuống hoặc bò sát miệng hầm của địch mà liệng vào. 

Như vậy, có thể nói, cả ta và địch đều lấy mục tiêu kiểm soát khu vực Thành Cổ Quảng Trị như một nỗ lực to lớn, nơi biểu dương sức mạnh của mỗi bên nhằm phục vụ cho cuộc đấu tranh chính trị, đấu tranh ngoại giao đang đi dần đến một thời điểm quyết định. 

Cuộc chiến đấu anh dũng 81 ngày đêm bảo vệ Thành Cổ Quảng Trị kết thúc bằng thất bại của một đội quân xâm lược đông trên 5 vạn tên với thừa thãi sức mạnh bom đạn, một lần nữa làm sáng ngời chân lý: Kẻ xâm lược có vũ khí tối tân đến đâu cũng phải khuất phục trước những con người có ý chí quyết chiến, quyết thắng, một lòng một dạ chiến đấu vì độc lập tự do của Tổ quốc. 

Như Tổng Bí thư Lê Duẩn đã viết: “ Chúng ta đã chịu đựng được không phải vì chúng ta là gang thép, vì gang thép cũng chảy với bom đạn của chúng. Mà chính chúng ta là những con người, những con người thật sự- những con người Việt Nam, với truyền thống 4000 năm đã giác ngộ sâu sắc trách nhiệm trọng đại trước Tổ quốc, trước thời đại.” 

Chiến tranh đã lùi xa gần 40 năm, mảnh đất Thành Cổ Quảng Trị một thời máu lửa nay đã hồi sinh, một màu xanh thắm của hoà bình, niềm hạnh phúc in trên từng khuôn mặt, những nụ cười rạng rỡ của trẻ thơ, một đô thị trẻ sinh động đã mọc lên, một sức sống mới, một sức sống bất tận đã được hồi sinh trên mảnh đất này. Hơn ai hết, thế hệ những người Việt Nam hôm nay luôn khắc sâu khúc ca bi tráng của Thành Cổ Quảng Trị. Và mỗi người Việt Nam đến đây hành hương luôn biết rằng “ngày hôm nay bắt đầu từ ngày hôm qua”, luôn ghi nhớ công ơn của các anh hùng liệt sĩ đã ngã xuống vì hoà bình, độc lập, tự do của Tổ quốc. 

Nhân 40 năm sự kiện Thành Cổ Quảng Trị, nhắc nhớ lại một vài con số, sự kiện, hình ảnh như trên, chúng tôi muốn nói rằng, Thành Cổ Quảng Trị năm 1972, biểu tượng sáng ngời về ý chí quyết chiến, quyết thắng của dân tộc Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước cần được tôn tạo xứng tầm là một di tích đặc biệt của quốc gia, để Thành Cổ trở thành “Nghĩa trang không nấm mồ”, để thị xã Quảng Trị trở thành “thành phố hành hương” hàng năm, mang giá trị giáo dục truyền thống, bồi đắp thêm lòng yêu nước, ý chí kiên cường chống ngoại xâm, bảo vệ từng tấc đất của quê hương, đất nước cho thế hệ trẻ tiếp nối. Đây cũng là địa chỉ để cho những người ở phía bên kia cuộc chiến đến để chiêm nghiệm, cắt nghĩa vì sao họ đã thất bại trên mảnh đất này, từ đó làm sáng ngời thêm tính chính nghĩa, lòng yêu chuộng tự do, hòa bình, độc lập của dân tộc Việt Nam, một dân tộc không bao giờ bị khuất phục trước bạo tàn. 

Hiện nay, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân đang tích cực triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng, nỗ lực đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Trên bước đường này, bên cạnh những thuận lợi, thời cơ, chúng ta cũng phải đối mặt với những khó khăn, thách thức. Để vượt qua những khó khăn, thách thức, bài học về ý chí quyết chiến, quyết thắng ở Thành cổ Quảng Trị năm 1972 vẫn còn nguyên giá trị . 

(Trích tham luận tại hội thảo khoa học “40 năm giải phóng tỉnh Quảng Trị và chiến đấu bảo vệ Thành Cổ 1972- 2012”).

Công tác hậu cần chiến dịch Trị - Thiên - 1972


Công tác hậu cần chiến dịch Trị - Thiên - 1972
Sau những thắng lợi liên tiếp trên các chiến trường, đặc biệt là thắng lợi của Chiến dịch Đường 9- Nam Lào, thế và lực cách mạng miền Nam có bước phát triển mới. Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương quyết định mở cuộc tiến công chiến lược năm 1972 trên chiến trường Đông Dương. Trong đó, xác định miền Nam là chiến trường chính nhằm đánh bại chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh” của Mỹ để giành thắng lợi quyết định. Quân uỷ Trung ương quyết định chọn Mặt trận Trị Thiên là hướng chiến lược chủ yếu, chiến trường Đông Nam Bộ và Tây Nguyên là hướng phối hợp quan trọng.
Thực hiện chỉ thị của Quân uỷ Trung ương, Tổng cục Hậu cần (TCHC) đã khẩn trương lập kế hoạch tổ chức chi viện cho các chiến trường 163.000 tấn vật chất các loại. Trong đó, chi viện cho Mặt trận Trị - Thiên 16.100 tấn nhằm thực hiện nhiệm vụ giải phóng Quảng Trị (trong Chiến dịch Trị -Thiên) và 9500 tấn cho nhiệm vụ phát triển tiếp theo.
Từ đầu tháng 10-1971, các binh trạm tuyến Bắc của Cục Vận tải cùng Công ty 2, Công ty 6 (Bộ Giao thông Vận tải) và Công ty 8 (tỉnh Quảng Bình) khẩn trương vận chuyển, đẩy nhanh hàng hậu cần vào tuyến trong. Các kho tiền phương của Tổng cục ở cảng Gianh, Khương Hà, Minh Cầm và trên các Đường 10, 14, 16 được mở rộng để tiếp nhận vật chất từ tuyến ngoài chuyển vào lập chân hàng cho Bộ Tư lệnh 559. Trên tuyến đường sắt, liên tục có các đoàn tàu chuyển quân và hàng vào miền Nam (riêng tháng 11-1971 có 18 chuyến tàu chở binh khí kỹ thuật hạng nặng). Trên tuyến đường thuỷ, tháng 7-1971, Đoàn Hồng Hà (Cục Vận tải) đã có 7 chuyến tàu tăng kít, 2 xà lan tự hành và 22 xà lan chở hàng đến đích an toàn; sau đó, tiếp chuyển các binh khí kỹ thuật hạng nặng từ Bến Thuỷ, Minh Cầm qua cảng Gianh vào Xuân Bồ (Quảng Bình).
Vận tải chỏ hàng phục vụ chiến dịch trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Ảnh tư liệu
Cũng trong thời gian này, TCHC tăng cường cho các chiến trường 65 phân đội hậu cần. Trong đó, chiến trường Trị - Thiên (B4) được tăng cường 2 đoàn cán bộ quân nhu; Mặt trận Quảng Trị (B5) được tăng cường 1 đoàn cán bộ quân nhu, 1 đội điều trị, 1 trạm sửa chữa xe và 1 trạm sửa chữa quân giới; Tuyến 559 và tuyến vận tải hậu phương được tăng cường lái xe và thợ sửa chữa gấp 2 lần so với năm 1970-1971... Các tỉnh Quảng Bình, Hà Tĩnh và Nghệ An đã huy động số lượng lớn dân công tổ chức sửa chữa, nâng cấp mạng đường trên các tuyến vận tải. Trên tuyến 559, hệ thống cầu đường được xây dựng, củng cố ngày càng vững chắc, hoàn thiện, có khả năng vươn tới các chiến trường; vận tải cơ giới được sử dụng hợp lý, hiệu quả đã mở được 2 chiến dịch "vượt khẩu" và “dồn hàng vào sâu trong tuyến”, nên chỉ sau 3 tháng đã đáp ứng đủ nhu cầu vật chất cho các chiến trường.
Để chuẩn bị cho chiến dịch Trị Thiên, ngay khi chiến dịch Đường 9 - Nam Lào kết thúc, Bộ Quốc phòng giao cho Bộ Tư lệnh 559 và Quân khu 4 xây dựng các tuyến đường vào bắc, nam sông Bến Hải và vận chuyển 727 tấn vật chất vào dự trữ ở các cụm hậu cần (căn cứ hậu cần (CCHC) mặt trận). Tháng 8-1971, Bộ quyết định hợp nhất Binh đoàn 70 và Mặt trận Đường 9 - Bắc Quảng Trị thành Bộ Tư lệnh B5; Cục Hậu cần B5 được thành lập trên cơ sở Cục Hậu cần Binh đoàn 70, Phòng Hậu cần B5, Tiền phương Cục Hậu cần Quân khu 4 và lực lượng do TCHC tăng cường.
Từ tháng 9-1971, Cục Hậu cần B5 tổ chức nghiên cứu chiến trường và tổ chức ra 5 CCHC chiến dịch với đủ các thành phần lực lượng, bao gồm: vận tải, kho, đội điều trị, trạm sửa chữa xe pháo… Nhờ đó, cuối tháng 3-1972, bộ máy hậu cần chiến dịch triển khai xong lực lượng và chuẩn bị được 18.385 tấn vật chất (đạt 112,5% kế hoạch). Ngoài ra, ở tuyến tiền phương có 9.000 tấn dự trữ cho kế hoạch tiếp theo.
Nhằm ngăn chặn, phá công tác chuẩn bị của ta, địch tổ chức đánh phá rất ác liệt vào các tuyến vận tải và căn cứ hậu phương, mở nhiều cuộc hành quân lấn chiếm sang Cánh đồng Chum, Hạ Lào, Đông bắc Campuchia...; đặc biệt, địch sử dụng máy bay AC -130 (cải tiến) săn lùng các đoàn xe vận tải trên Tuyến 559, gây cho ta nhiều thiệt hại. Mặc dù vậy, các chiến trường vừa khẩn trương chuẩn bị cho cuộc tiến công chiến lược 1972, vừa kiên quyết đánh địch lấn chiếm, khắc phục mọi khó khăn và tuyệt đối giữ bí mật ý đồ tác chiến.
Quyết tâm chiến dịch Trị - Thiên được Quân uỷ Trung ương thông qua; từ giữa tháng 3/1972, các đơn vị tham gia chiến dịch cơ động vào vị trí tập kết. Chiến dịch chia làm 3 đợt:
11 giờ 30 phút ngày 30-3-1972, đợt 1 chiến dịch mở màn với 15.000 quả đạn pháo từ 150 khẩu pháo và 90 khẩu cối nã vào các cứ điểm địch ở nam, bắc Đường 9. Sau 5 ngày tác chiến, tuyến phòng thủ vòng ngoài của địch bị phá vỡ; ta giải phóng hai huyện Do Linh, Cam Lộ, phát triển vào thị xã Đông Hà, nhưng bị địch ngăn chặn quyết liệt phải dừng lại củng cố lực lượng và kết thúc đợt 1 (9-4-1972). Nhằm tiếp cận đội hình tác chiến, các cụm hậu cần đều di chuyển lên phía trước để kịp thời bảo đảm cho bộ đội. Trong tháng 4, hậu cần chiến lược đã chi viện cho chiến dịch 4.860 tấn vật chất; hậu cần chiến dịch đã chuyển cho các đơn vị 1.500 viên đạn pháo 122 ly, 300 viên đạn pháo 130 ly và 6.088 tấn vật chất khác… nhưng bị tổn thất 52 xe (20%). Để bảo đảm cho Sư đoàn 304 và 324 ở Ái Tử và tây thị xã Quảng Trị, hậu cần chiến dịch đã tổ chức đóng 617 tấn gạo vào bao nilon rồi thả trôi trên các sông DaKrong, Ba Lòng, các đơn vị và nhân dân ven sông đã vớt được đầy đủ, bảo đảm cho chiến dịch.
Đợt 2 (từ 2-4/ 2-5), ta tập trung tiêu diệt các cứ điểm ở Ái Tử, Đông Hà, La Vang và truy kích địch rút chạy, giải phóng hoàn toàn tỉnh Quảng Trị. Trong đợt này, hậu cần đã bảo đảm 7.530 tấn vật chất các loại, trong đó có 3.677 tấn đạn dược, 1.120 tấn xăng dầu, 30 tấn vật tư kỹ thuật, 2.640 tấn lương thực, thực phẩm (LTTP), cứu chữa 4.619 thương binh.
Sau khi giải phóng Quảng Trị, Sư đoàn 324 được điều vào Bắc sông Bồ cùng Quân khu Trị - Thiên tiến công địch ở Thừa Thiên. Hậu cần chiến dịch đã điều chỉnh lại thế trận bám sát đội hình tác chiến: Cụm 1 ở khu vực Mai Lộc - Cam Lộ bảo đảm cho lực lượng cơ động chiến đấu ở khu giữa (gồm pháo binh, cao xạ, lực lượng dự bị cơ động…) và chi viện cho cụm 2, 3 ở nam sông Ba Lòng. Cụm 2 chuyển sang nam sông Ba Lòng triển khai ở Động Ông Do - Khe Trai- Văn Vạn để bảo đảm cho Sư đoàn 308 và các đơn vị binh chủng ở tây Thị xã Quảng Trị (Thượng Phước). Cụm 3 chuyển lên khu vực Điểm cao 367 (Bắc Tân Điền) bảo đảm cho Sư đoàn 304 ở bắc sông Mỹ Chánh. Cụm 4 chuyển sang Đông Mai Xá Thị - Mỹ Thuỷ bảo đảm cho lực lượng trên hướng Đông. Việc di chuyển được tiến hành rất khẩn trương, bí mật.
Đợt 3 (20 đến 27-6-1972), ta tiến công địch từ nam sông Mỹ Chánh vào Thừa Thiên, nhưng chúng đã tăng cường lực lượng phòng thủ, chuẩn bị phản công, đồng thời Mỹ dùng không quân và pháo binh đánh phá rất ác liệt nên sau 6 ngày tác chiến, ta phải dừng lại và kết thúc chiến dịch. Trong đợt này, hậu cần đã bảo  đảm 6.600 tấn vật chất trong đó có 1.668 tấn đạn, 1.140 tấn xăng dầu, 3.590 tấn LTTP và cứu chữa 4.203 thương binh. Tuy nhiên, do việc chuẩn bị đường chưa chu đáo, lại bị địch đánh phá ác liệt, trời mưa, trơn lầy không sử dụng được ô tô, vận tải bộ không đủ sức bảo đảm cho bộ đội. Sau đợt 3, bộ đội phải dừng lại để củng cố lực lượng. Từ cuối tháng 6-1972, địch tập trung phản công đánh phá ác liệt khu vực từ Thị xã Quảng Trị đến sông Mỹ Chánh, yểm trợ quân Nguỵ mở cuộc hành quân “Lam Sơn 72” chiếm lại Quảng Trị và các vùng đã mất, ta chuyển sang chiến dịch phòng ngự Quảng Trị kéo dài hơn 4 tháng, chiến sự diễn ra hết sức khốc liệt…
Trong chiến dịch Trị - Thiên năm 1972, ta đã loại khỏi vòng chiến đấu 27.000 tên địch (bắt 3.388 tên); thu và phá huỷ 636 xe tăng, xe bọc thép, 1870 xe quân sự, 419 khẩu pháo, bắn rơi và phá huỷ 340 máy bay; giải phóng tỉnh Quảng Trị và 3 xã của huyện Hương Điền (tỉnh Thừa Thiên). Đối với hậu cần chiến dịch đã bảo đảm đầy đủ, kịp thời nhu cầu cho các đơn vị tác chiến gồm 14.130 tấn vật chất (đạt 87,8% kế hoạch), trong đó có 5.345 tấn đạn; 2.260 tấn xăng dầu; 150 tấn vũ khí, vật tư kỹ thuật; 6.230 tấn LTTP, cứu chữa 8.822 thương binh và 4.983 bệnh binh, các trạm sửa chữa xe đã trung tu 311 lượt chiếc, sửa chữa nhỏ 1.452 lượt xe các loại... góp phần quan trọng vào thắng lợi của chiến dịch.
Thắng lợi của cuộc tiến công chiến lược 1972, đặc biệt là trên hướng chủ yếu Trị - Thiên, cùng với chiến dịch “Điện Biên phủ trên không” ở Hà Nội, Hải Phòng đã đánh bại hoàn toàn ý chí xâm lược, buộc đế quốc Mỹ phải ký Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam, tạo thời cơ lớn để quân và dân ta tiến tới giành đại thắng trong Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, đất nước thống nhất.
Đại tá TS Nguyễn Đông Thức 
Tài liệu tham khảo
1. Lịch sử hậu cần QĐND Việt Nam tập 2, Nxb QĐND 1999.
2. Lịch sử Hậu cần chiến dịch trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Nxb QĐND 2001.
3. Từ điển Bách khoa Quân sự, Nxb QĐND 2005.
4. Tổng kết hậu cần trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Nxb QĐND 2001.

Quảng Trị không chỉ có 81 ngày


Trung tướng Phạm Hồng Cư, nguyên Phó chủ nhiệm Tổng cục chính trị: 
Quảng Trị không chỉ có 81 ngày

QĐND - Trong Chiến dịch Quảng Trị năm 1972, Trung tướng Phạm Hồng Cư là Thượng tá, Cục phó Cục Tuyên huấn được Tổng cục Chính trị cử làm phái viên tại Mặt trận Trị Thiên. Được sống và làm việc với các danh tướng Văn Tiến Dũng, đại diện Quân ủy Trung ương; Lê Trọng Tấn, Tư lệnh và Lê Quang Đạo, Chính ủy Mặt trận, nên ông chứng kiến những giây phút căng thẳng và hệ trọng ở cơ quan chỉ huy cao nhất của chiến dịch.
 
Trung tướng Phạm Hồng Cư.  Ảnh: Trung Nguyên
Phóng viên (PV): Thưa Trung tướng, làm phái viên của Tổng cục rất quan trọng, nhưng thực chất nhiệm vụ cụ thể của ông là gì?
Trung tướng Phạm Hồng Cư: Tôi có ba nhiệm vụ cơ bản: Thứ nhất là giúp đồng chí Lê Quang Đạo về công tác chính trị tại mặt trận; Thứ hai là phát tin chiến sự về cho Cục Tuyên huấn; Thứ ba là báo cáo trực tiếp tình hình mặt trận hằng ngày cho Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Song Hào, rồi nhận chỉ thị từ đồng chí báo lại với Chính ủy Mặt trận.
PV:  Với những năm tháng kéo dài ác liệt và hào hùng đó, với những ngày tháng bên cạnh những tướng lĩnh trận mạc tài ba đó, chắc để lại trong ông những kỷ niệm không bao giờ quên…
Trung tướng Phạm Hồng Cư: Nhiệm vụ của phái viên đã để lại trong tôi nhiều kỷ niệm sâu sắc: Hồi 11 giờ ngày 31-3-1972,  một ngày sau khi ta nổ súng mở màn Chiến dịch tiến công giải phóng Quảng Trị, tôi nhận trực tiếp từ Tổng cục Chính trị Lời kêu gọi của Trung ương Đảng về cuộc Tiến công chiến lược năm 1972; Ngày 4-4, sau khi ta đánh vỡ tuyến vòng ngoài của địch ở Quảng Trị, Đại tướng Võ Nguyên Giáp điện vào cho Bộ tư lệnh Mặt trận khen đánh thắng trận đầu; còn một kỷ niệm giờ đây ít người nhắc đến là ngày 2-4, trước uy lực lớn của Đoàn pháo binh Bông Lau (Trung đoàn 38), toàn bộ Trung đoàn 56 của Quân đội Sài Gòn do Trung tá Phạm Văn Đính, Trung đoàn trưởng và Trung tá Vĩnh Phong, Trung đoàn phó ra hàng. Nhận được tin ấy, tôi báo cáo ngay với đồng chí Song Hào. Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị chỉ thị ngay: Chuyển việc đầu hàng thành phản chiến, đối xử không phải tù binh, hàng binh mà là những người phản chiến về với cách mạng, giữ nguyên cấp bậc cho họ. Tôi nghĩ, đó là sự chỉ đạo rất nhạy bén, rất hay, làm phân hóa tư tưởng đối với binh sĩ Quân đội Sài Gòn…
PV: Chiến dịch Quảng Trị kéo dài hết năm 1972 cho đến sang đầu năm 1973. Nhưng thưa ông, bây giờ nói đến chiến dịch đó, hầu như người ta chỉ chú ý đến sự kiện 81 ngày đêm bảo vệ Thành cổ?
Trung tướng Phạm Hồng Cư: Bởi vì “81 ngày đêm” là Khúc tráng ca về Chủ nghĩa anh hùng cách mạng, là sự hy vinh vô bờ bến của một thế hệ “thanh niên vàng” vì Tổ quốc, cho nên các phương tiện truyền thông, văn học, hoặc nghiên cứu lịch sử chú ý khai thác nhiều.
Thực ra, nói Chiến dịch Quảng Trị năm 1972 là nói đến hai chiến dịch: Chiến dịch tiến công giải phóng Quảng Trị từ ngày 30-3 cho đến 1-5, sau đó phát triển qua sông Mỹ Chánh (Thừa Thiên-Huế) đến ngày 27-6 kết thúc; Ngày 28-6 địch bắt đầu phản công thì ta chuyển thành chiến dịch phòng ngự. Chiến dịch này chia thành ba giai đoạn: Giai đoạn 1 từ ngày 28-6 đến ngày 16-9, khi ta rút khỏi Thành cổ (nên mới gọi là 81 ngày đêm bảo vệ Thành cổ); Giai đoạn 2 từ đó cho đến Hiệp định Pa-ri (27-1-1973), các đơn vị của ta chủ động phòng ngự bảo vệ vững chắc vùng giải phóng; Giai đoạn 3 là trước khi Hiệp định Pa-ri có hiệu lực, Quân đội Sài Gòn mở cuộc hành quân lấn chiếm Cửa Việt, ta dùng Sư đoàn 320B đánh bại chúng.
Tôi nghĩ, nhân Kỷ niệm 40 năm Ngày chiến thắng Quảng Trị, nên tuyên truyền một cách toàn diện cuộc tiến công chiến lược này. Quảng Trị đâu chỉ có 81 ngày đêm bảo vệ Thành cổ.
Tổng Tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng gặp các nghệ sĩ tại mặt trận Quảng Trị năm 1972 (đồng chí Hồng Cư ngoài cùng, bên phải). Ảnh tư liệu
PV: Thưa ông, tôi nghĩ rằng: Nếu như Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào năm 1971 ta dụ lực lượng chủ lực của địch vào địa hình rừng núi, nơi ta phát huy được cách đánh sở trường nên thắng lớn, thì Chiến dịch Quảng Trị năm 1972 chúng ta tiến công nơi địch có tuyến phòng ngự mạnh nhất do Mỹ xây dựng, lại là nơi đối phương mạnh về tác chiến đồng bằng, nên tổn thất nhiều…
Trung tướng Phạm Hồng Cư: Năm 1972, ta mở cuộc tiến công chiến lược trên ba hướng: Mặt trận Trị Thiên, Tây Nguyên (Kon Tum), Đông Nam Bộ (Lộc Ninh), trong đó Mặt trận Trị Thiên là hướng chủ yếu.
Như vậy, chúng ta phải đặt cuộc tiến công giải phóng Quảng Trị vào thế tiến công của toàn miền mới thấy hết được tầm vóc và ý nghĩa của chiến thắng này. Việc Quảng Trị là tỉnh đầu tiên của miền Nam được giải phóng đã cổ vũ rất lớn quân dân hai miền Nam-Bắc.
Trung tướng Phạm Hồng Cư tên thật là Lê Đỗ Nguyên, sinh năm 1926 tại Thanh Hóa, nhập ngũ năm 1945. Ông từng giữ các chức vụ: Phó chính ủy Trung đoàn 36 (Đại đoàn 308), Cục phó Cục Tuyên huấn, Cục trưởng Cục Văn hóa, Phó tư lệnh về chính trị Quân khu 2, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị.
Chiến dịch Quảng Trị cũng cần đặt trong bước tiến về nghệ thuật quân sự của quân đội ta. Nếu như cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1968 ta đánh bằng đặc công, bằng bộ đội địa phương, kết hợp với nổi dậy của nhân dân, thì ở trận này, ta đánh bằng chủ lực, đánh tiêu diệt cấp sư đoàn của địch bằng tác chiến hiệp đồng binh chủng. Nói theo các nhà nghiên cứu quân sự, đó là chiến tranh quy ước, tác chiến chính quy. Ta tung ra các sư đoàn mạnh: 308, 304, 320, 324, 325… với 7 trung đoàn pháo binh, 2 lữ đoàn xe tăng-thiết giáp (202 và 203), 3 sư đoàn pháo phòng không (365, 367, 377). Có những cuộc tiến công tiêu hao lớn lực lượng địch như vậy mới làm quân đội chúng suy yếu và suy sụp về tinh thần, để sau này khi thời cơ thuận lợi, ta có những trận quyết định làm địch sụp đổ hoàn toàn.
Tôi nhớ, ngày 30-3 năm ấy, sau khi Tư lệnh Lê Trọng Tấn hạ mệnh lệnh: “Bão táp”, lập tức cụm pháo chiến dịch gồm 247 khẩu pháo, trong đó có pháo 130mm của Đoàn Bông Lau đồng loạt nhả đạn. Cuộc bắn pháo này kéo dài 36 tiếng đồng hồ với 8 nghìn viên đạn. Sau đó có một cảnh tượng rất hào hùng mà từ trước đến lúc bấy giờ chưa có trong tác chiến của quân đội ta: Trong tiếng pháo gầm, xe tăng và bộ binh ta đồng loạt xuất phát. Ngay lập tức, ta đã bẻ gãy tuyến phòng ngự của địch ở hướng tây và tây bắc.
Ngày 27-4, ta mở đợt 2 chiến dịch, đợt quyết định chiến trường: Sư đoàn 308 tiến công Đông Hà, Sư đoàn 304 tiến công Ái Tử, một bộ phận của Sư đoàn 304 cắt cầu Quảng Trị. Phối hợp với đòn tiến công của bộ đội chủ lực, nhân dân Quảng Trị nổi dậy giải phóng tỉnh Quảng Trị vào 18 giờ ngày 1-5-1972.
Chiến dịch Quảng Trị kéo dài bởi vì ở thời điểm đó, ta và Mỹ giằng co trên bàn đàm phán. Nên nhớ, tháng 2-1972 Tổng thống Mỹ thăm Trung Quốc, tháng 5 thăm Liên Xô hòng cô lập Việt Nam. Cho nên, để có ngày Mỹ phải ký Hiệp định Pa-ri 27-1-1973 thì cùng với trận “Điện Biên Phủ trên không”, Chiến dịch tiến công và giải phóng Quảng Trị có đóng góp vô cùng to lớn vào thắng lợi, thực hiện lời dạy của Bác Hồ: “Đánh cho Mỹ cút”!
PV: Thắng lợi là vậy, nhưng lực lượng của ta cũng bị tổn thất nhiều. Chúng ta có chủ quan duy ý chí không khi quyết giữ Thành cổ Quảng Trị bằng được, khi ở đó chỉ có đống gạch vụn, là mục tiêu vô cùng thuận lợi cho hỏa lực của Mỹ-ngụy?
Trung tướng Phạm Hồng Cư: Theo tôi, bên cạnh những ưu điểm lớn, chiến dịch này chúng ta có hai khuyết điểm và nhược điểm: Thứ nhất là trong giai đoạn tiến công chỉ đánh vỗ mặt mà không có vu hồi. Thực chất khi chuẩn bị chiến dịch, ta có làm đường cho mũi vu hồi vào Huế, nhưng trước khi vào chiến dịch lực lượng này lại được điều đi làm đường ở Tây Nguyên, nên khi ta giải phóng Quảng Trị, địch rút chạy hỗn loạn về Huế nhưng do ta không có mũi vu hồi nên bỏ lỡ thời cơ.
Khi địch quay trở lại phản công thì khuyết điểm thứ hai bộc lộ: Chúng ta không chủ động phòng ngự mà bước vào phòng ngự một cách bị động và lúng túng. Nguyên nhân không phải do các đơn vị mà ở cơ quan cấp cao hơn. Hồi ấy ở cơ quan Mặt trận nên tôi biết, có một số cán bộ cao cấp cứ quan niệm một cách máy móc rằng, Cách mạng là tiến công, cho phòng ngự là tiêu cực, là hữu khuynh, là điều cấm kỵ! Họ sai về nhận thức, không phân biệt được giữa tư tưởng chiến lược của chiến tranh Cách mạng là tiến công còn hình thức tác chiến là có tiến công và phòng ngự, như câu thơ Bác Hồ viết trong bài “Học đánh cờ”: Tấn công, phòng thủ không sơ hở/Đại tướng anh hùng mới xứng danh. Cho nên lúc đầu ta bị tổn thất. Hồi ấy khi tình thế rất cấp bách, ở Mặt trận còn tranh luận có phòng ngự hay không cơ mà. Chỉ đến lúc Đại tướng Võ Nguyên Giáp ra lệnh dứt khoát chuyển sang phòng ngự, bấy giờ ta mới tổ chức phòng ngự khu vực, ngăn chặn các cuộc tấn công của địch, bảo vệ vững chắc vùng Giải phóng.
Thành cổ Quảng Trị chỉ có một ô vuông như ô bàn cờ mà Mỹ-ngụy dùng pháo hạm, dùng B-52 băm nát  như vậy thì làm sao chúng ta tránh được tổn thất. Chúng ta giữ Thành cổ là để phối hợp với đấu tranh ngoại giao trên bàn đàm phán. Ca ngợi 81 ngày đêm là ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng, còn về phương diện tác chiến thì chúng ta có tổn thất…
PV: 40 năm đã trôi qua mà giờ đây nhắc lại chiến dịch này, tôi thấy ông vẫn rất xúc động…
Trung tướng Phạm Hồng Cư: Tôi đã từng tham gia nhiều chiến dịch quân sự lớn trong chống Pháp và chống Mỹ như: Chiến dịch Điện Biên Phủ, Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, chiến dịch Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975… nhưng chưa có chiến dịch nào ác liệt và kéo dài như Chiến dịch Quảng Trị. Hai bên đọ sức 304 ngày bằng sức mạnh cao nhất lúc bấy giờ. Căng thẳng đến nỗi, lúc ta bước vào phòng ngự, đồng chí Lê Trọng Tấn và Lê Quang Đạo phải rút ra Hà Nội do sức khỏe giảm sút (Tư lệnh Lê Trọng Tấn vì nghe điện thoại nhiều nên bị loét tai do dị ứng), thay thế bằng Tư lệnh Trần Quý Hai và Chính ủy Song Hào. Biết bao đồng chí, đồng bào đã đổ máu, đã hy sinh trong chiến dịch để tạo nên bản anh hùng ca bất tử.
Có chiến thắng, nhưng không tránh khỏi tổn thất. Đó là một quy luật tất yếu của chiến tranh. Nhìn lại Chiến dịch Quảng Trị, cần có cái nhìn biện chứng để đúc rút những kinh nghiệm quý báu cho nghệ thuật quân sự Việt Nam, nhưng trước hết là tấm lòng biết ơn vô hạn của chúng ta đối với những người đã ngã xuống vì độc lập, tự do của Tổ quốc.
PV: Xin cảm ơn Trung tướng!
Hồng Sơn (thực hiện)

Chiến trường Quảng Trị trong ký ức những vị tướng trận mạc


Chiến trường Quảng Trị trong ký ức những vị tướng trận mạc
(GD&TĐ) - Ngày 1-5-1972, tỉnh Quảng Trị được hoàn toàn giải phóng, đó là dấu mốc ghi nhận khu vực hành chính đầu tiền của miền Nam được giải phóng trong những năm kháng chiến chống Mỹ. Sau thời điểm ấy, những chiến sĩ Quân giải phóng trên Mặt trận Quảng Trị lại tiếp tục tham gia vào các cuộc chiến khốc liệt nhằm phòng ngự và bảo vệ Quảng Trị.
Bốn mươi năm đã trôi qua, nhưng vùng đất đỏ lửa Quảng Trị luôn để lại những ký ức khó phai trong cuộc đời quân ngũ của các cựu chiến binh. Chúng tôi đã có dịp ghi  lại cảm xúc của các vị tướng trận mạc từng có những năm tháng chiến đấu ở đôi bờ giới tuyến trên chiến trường Quảng Trị, nơi mà nhà thơ Lê Bá Dương từng xúc cảm: “Một khẩu súng giữ hai trời Nam Bắc/Một dấu chân in màu đất hai miền”...
Thiếu tướng Nguyễn Đức Huy, nguyên Phó Tư lệnh, Tham mưu trưởng Quân khu 2:
Thiếu tướng Nguyễn Đức Huy
Trong Chiến dịch giải phóng Quảng Trị năm 1972, tôi đang là Trung đoàn phó Trung đoàn 9 (Sư đoàn 304). Khi Trung đoàn 9 được lệnh vượt sông Thạch Hãn vào đánh chiếm thị xã Quảng Trị, rạng sáng 2-5-1972, tôi đã trực tiếp chỉ huy Tiểu đoàn 1 và Đại đội 14 chia thành hai cánh tiến vào đánh chiếm Thị xã và thành cổ Quảng Trị.
4 giờ sáng ngày 2-5-1972, cờ giải phóng đã bay trên nóc dinh Tỉnh trưởng, toàn bộ thị xã Quảng Trị đã hoàn toàn được giải phóng (Hiện nay tỉnh Quảng Trị lấy ngày 1-5-1972 là ngày giải phóng Quảng Trị). Tôi được cấp trên chỉ định làm Chủ tịch Uỷ ban quân quản lâm thời thị xã Quảng Trị.
Ngày đầu, Uỷ ban quân quản đã phải đối mặt với biết bao khó khăn, bởi trong thị xã ngổn ngang hàng trăm xe tăng, xe bọc thép, các loại súng pháo, quân trang, quân dụng… của địch, tất cả đều cần phải nhanh chóng sơ tán, thu dọn, tránh không quân địch tới phá huỷ.   
Ngay chiều 2-5-1972, chúng tôi đã họp bàn, huy động cán bộ, nhân dân và dân quân du kích ở các xã: An Tiêm, Hải Lệ, Triệu Thượng… cùng các xã thuộc huyện Triệu Hải về tham gia cứu chữa số binh lính Quân đội Sài Gòn đang bị thương, tiến hành chôn cất người chết, dọn vệ sinh và huy động hàng nghìn người dân ra đồng gặt lúa… Sau một tuần, chính quyền ở nhiều xã đã được củng cố, hàng trăm tấn vũ khí đạn dược của địch đã được đưa ra khỏi thị xã. Ngoài ra, ta đã thu được gần chục xe tài liệu quý do địch rút chạy không kịp phá huỷ hoặc mang theo.
Thiếu tướng Nguyễn Văn Xuyên, nguyên Chủ nhiệm chính trị Học viện Quốc phòng: 
Thiếu tướng Nguyễn Văn Xuyên
Thiếu tướng Nguyễn Văn Xuyên
Khoảng cuối tháng 10-1972, Bộ tư lệnh Sư đoàn 312 nhận nhiệm vụ vào Quảng Trị trực tiếp chỉ huy ba trung đoàn phòng ngự kết hợp với tiến công, giữ tuyến động Ông Do - chùa Nga - Điểm cao 132 - Tích Tường - Như Lệ để bảo vệ con đường vận tải chiến lược. Khi đó, tôi đang là Phó Chính uỷ Sư đoàn 312 và được phân công trực tiếp chỉ đạo Trung đoàn 209.
Lúc này quân số Trung đoàn bị hao hụt, mỗi tiểu đoàn chỉ có thể đảm bảo một đại đội (gồm cả thương binh nhẹ) có thể chiến đấu được. Để tìm cách khích lệ tinh thần chiến đấu của anh em chiến sĩ, tôi có bàn với chỉ huy Trung đoàn nên tổ chức các trận đánh nhỏ bởi hiện địch đang chủ quan. Đầu tiên chúng tôi tổ chức trinh sát kỹ đoạn đường mà địch thường đi lại, sau đó lựa chọn những chiến sĩ hăng hái, có sức khoẻ tốt để thành lập hai tiểu đội phục kích đánh địch. Cách đánh này đã phát huy hiệu quả ngay trong trận đánh đầu khi ta vừa tiêu diệt, thu vũ khí và lương thực của địch.
Sau đó, cứ cách một, hai ngày các phân đội lại tổ chức một trận phục kích địch. Cán bộ, chiến sĩ đơn vị rất hăng hái, ai cũng muốn đi, cuối cùng chúng tôi phải đưa ra giải pháp “chia đều” để tiểu đoàn nào cũng được tham gia các trận phục kích địch. Đầu tháng 11-1972, Trung đoàn 209 tổ chức phản công, chiếm lại được các điểm cao 52, 15 và 29. Phía địch bị tổn thất nặng nên đã phải chuyển từ phản công ồ ạt sang đánh nhỏ lẻ...
Trung tướng Hoàng Kỳ, nguyên Phó Tổng Tham mưu trưởng QĐND Việt Nam: 
Trung tướng Hoàng Kỳ
Trung tướng Hoàng Kỳ
Những ngày diễn ra Chiến dịch giải phóng Quảng Trị năm 1972, tôi có mặt trong đội hình Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 27 (Đoàn Triệu Hải). Tôi nhớ mãi trận đánh ngày 30-3-1972, khi Bộ tư lệnh chiến dịch giao cho Trung đoàn 27  nhiệm vụ giải phóng hoàn toàn căn cứ Phu-lơ (tức Điểm cao 544) và Đồi Tròn, mở cửa hướng tây bắc để các đơn vị chủ lực tiến công giải phóng Quảng Trị. Khi đó, tôi đang là Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 2. Tiểu đoàn chúng tôi và Tiểu đoàn 1 được giao phối hợp cùng Tiểu đoàn 3 do Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Huy Hiệu (sau nàu là Thượng tướng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng) có nhiệm vụ tiến công căn cứ Phu-lơ và Đồi Tròn từ phía tây và tây bắc.
Theo hiệp đồng, Tiểu đoàn trưởng Bùi Xuân Các, Chính trị viên Lê Văn Dưỡng, tôi (Tiểu đoàn phó) và Chính trị viên phó Nguyễn Xuân Kỳ lần lượt chỉ huy đánh chiếm các mỏm: Đ1, Đ2, Đ3, Đ4 ở phía bắc căn cứ Phu-lơ. Trận đánh diễn ra từ trưa 30-3 cho tới đêm hôm đó thì căn cứ Phu-lơ đã bị quân ta làm chủ.
Tiếp đó, tới trưa 31-3-1972, ta lại làm chủ hoàn toàn căn cứ Đồi Tròn. Vậy là sau hai ngày đêm chiến đấu, Trung đoàn 27 đã san bằng hai cứ điểm kiên cố mà địch từng ví là “con mắt thần” trong hàng rào điện tử Mắc-na-ma-ra.
Cùng đồng đội Trung đoàn Triệu Hải tham gia hàng chục trận đánh lớn nhỏ ở chiến trường Quảng Trị, tôi từng chứng kiến biết bao đồng đội đã anh dũng hy sinh trên mảnh đất khói lửa này. Ngày ấy, Trung đoàn 27 được bổ sung khá nhiều tân binh là sinh viên các trường đại học và công nhân, viên chức các cơ quan được động viên vào chiến trường. Ở họ vừa có những nét vô tư, trong sáng, lại vừa có sự sắc sảo, thông minh và đầy nhiệt huyết. Nhiều người trong số họ đã vĩnh viễn nằm lại mảnh đất Quảng Trị khi tuổi đời còn rất trẻ…
Trung tướng Bùi Xuân Chủ, nguyên Chính uỷ Tổng cục Hậu cần:
Trung tướng Bùi Xuân Chủ
Trong các năm từ 1968-1972, tôi cùng Tiểu đoàn 8, Trung đoàn 66 (Quân đoàn 2) làm nhiệm vụ ở chiến trường Quảng Trị. Còn nhớ thời điểm đầu tháng 7-1972, khi tôi đang là Chính trị viên Đại đội 6, một đại đội mà quân số chỉ còn lại 30 người, chúng tôi được cấp trên giao nhiệm vụ chốt giữ vị trí đầu cầu trong khu vực Thành cổ.
Sau khi nghe chỉ huy đại đội thông báo sẽ có 10 chiến sĩ được lựa chọn để cùng tôi vào chiến đấu đợt đầu tiên, thật bất ngờ, cả 30 chiến sĩ đều viết quyết tâm thư gửi Chính trị viên xin được tham gia trận đánh. Tôi đọc 30 bản quyết tâm thư với những nét chữ học trò của các chàng trai tuổi mười tám, đôi mươi để lựa chọn ra 10 người trong số họ bước vào trận đánh với bao khó khăn đang ở phía trước. 
Trận đánh ấy, tôi có một kỷ niệm khó quên về tình đồng chí, đồng đội. Hôm đó, khi đang đứng ở cửa hầm chỉ huy phân đội chiến đấu thì đạn pháo của địch trùm lên vị trí của tôi, rất nhanh, hai chiến sĩ Nguyễn Đăng Hùng và Phạm Văn Tiến đứng cạnh liền nhào tới, hét to: “Thủ trưởng ơi, nằm xuống!”.
Vì dũng cảm chắn đạn cho tôi mà cả hai chiến sĩ đều bị thương, người bị thương ở chân, người bị mất một tay do đạn pháo của địch. Sau này, tôi có về Quỳnh Lưu và Đô Lương (Nghệ An) để tìm gặp hai người đồng đội từng cứu mình năm ấy, nhưng tôi chỉ gặp lại Nguyễn Đăng Hùng, còn Phạm Văn Tiến thì đã mất do lâm bệnh hiểm nghèo…
Bùi Vũ Minh (thực hiện)