Thứ Năm, 17 tháng 7, 2014

Mở chiến dịch Điện Biên Phủ - Một quyết định lịch sử

Mở chiến dịch Điện Biên Phủ - Một quyết định lịch sử

Bộ đội cùng đồng bào các dân tộc Tây Bắc xẻ núi, làm đường vào trận địa.
( Ảnh: Tư liệu TTXVN)

Quyết định lịch sử mở chiến dịch Điện Biên Phủ là kết quả tổng hợp của nhiều nhân tố như sự lãnh đạo chỉ đạo đúng đắn, sáng tạo, quyết đoán, kịp thời của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh, của Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh; sự đồng tâm nhất trí, đoàn kết một lòng, dồn toàn lực cho chiến thắng ở giai đoạn cuối cuộc kháng chiến.
Phó giáo sư, tiến sỹ Nguyễn Mạnh Hà, Viện trưởng Viện Lịch sử Đảng (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh) đã phân tích, làm rõ vấn đề này trong bài viết "Mở chiến dịch Điện Biên Phủ - Quyết định lịch sử của Đảng ta trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược."
Con đường đến Điện Biên Phủ
Đến Thu-Đông năm 1953, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược và can thiệp Mỹ đã trải qua 8 năm. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân và dân ta đã vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, đưa cuộc kháng chiến từ thế phòng ngự chuyển sang thế giằng co và phát triển sang thế tiến công, phản công.
Chiến dịch tiến công Biên giới Thu-Đông 1950 giành thắng lợi to lớn đã khẳng định quyền chủ động chiến lược của ta trên chiến trường chính Bắc Bộ. Điều này có nghĩa là bộ đội chủ lực của ta có thể mở các chiến dịch tiến công quân Pháp và tay sai ở hướng chiến trường do ta lựa chọn, chủ động xác định quy mô lực lượng tham gia chiến dịch, chủ động về thời gian mở màn và kết thúc chiến dịch. Đây là sự phát triển vượt bậc của cuộc kháng chiến về mặt thế trận trong khi so sánh lực lượng về quân sự, vũ khí, trang bị… ta vẫn còn thua kém địch khá nhiều.
Bằng chiến thắng trong chiến dịch tiến công địch ở Hòa Bình Đông-Xuân 1951-1952; ở Tây Bắc Thu-Đông 1952, đặc biệt là chiến thắng trong chiến dịch vận động tiến công, truy kích địch ở Thượng Lào (phối hợp với lực lượng vũ trang yêu nước Lào) tháng 4/1953, quyền chủ động chiến lược của ta đã mở rộng ra toàn miền Bắc Đông Dương.
Trong khi đó, thực dân Pháp ngày càng lún sâu vào thế phòng ngự, bị động đối phó với các cuộc tiến công của chủ lực ta. Tình thế cuộc chiến tranh ngày càng bi đát và bế tắc, khiến Chính phủ Pháp phải tính đến việc tìm cách kết thúc, thoát ra khỏi cuộc chiến ở Đông Dương sao cho đỡ mất mặt nhất. Tướng Henri Navarre đã được Chính phủ Pháp cử sang làm Tổng chỉ huy đạo quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương (thay tướng Salan bị triệu hồi) để gánh vác "sứ mệnh" nặng nề đó.
Henri Navarre đã nhanh chóng tìm hiểu tình hình và đề ra một kế hoạch tổng thể cả về chính trị và quân sự nhằm giành lại quyền chủ động chiến trường, đánh một đòn quyết định trước khi bước vào đàm phán trên thế mạnh với ta để kết thúc chiến tranh.
Kế hoạch của Navarre về quân sự dự kiến chia làm hai bước, bước một từ Thu Đông 1953 đến Xuân Hè 1954 tránh giao chiến với chủ lực ta, tập trung xây dựng khối cơ động chiến lược ở miền Bắc, tiến hành bình định miền Nam và các tỉnh tự do ở Liên khu 5. Bước thứ hai, từ mùa Thu 1954, sau khi đã bình định Nam Bộ, Trung Bộ và đã xây dựng được khối cơ động chiến lược, sẽ tổ chức giao chiến lớn với chủ lực ta ở miền Bắc nhằm tạo nên một cục diện quân sự có lợi cho Pháp khi xúc tiến một giải pháp chính trị kết thúc chiến tranh.
Vào cuối tháng 8/1953, sau khi nắm được nội dung cơ bản của Kế hoạch Navarre, Tổng Quân ủy đã trình Bộ Chính trị Trung ương Đảng bản Đề án "Tình hình địch-ta ở Bắc Bộ sau khi địch rút khỏi Nà Sản và chủ trương tác chiến của ta trong Thu Đông 1953."
Bản Đề án cho rằng, Bộ chỉ huy Pháp quyết định rút bỏ tập đoàn cứ điểm Nà Sản (từ ngày 9-12/8/1953) nhằm tập trung lực lượng về Đồng bằng Bắc Bộ, tiến tới giành lại chủ động trên chiến trường trọng yếu này. Về lực lượng của ta ở Bắc Bộ, Tổng Quân ủy đánh giá là chưa chiếm ưu thế so với địch nên cũng chưa có khả năng thể hiện được ưu thế binh lực tuyệt đối trên hướng chính trong một chiến dịch ở đồng bằng. Vì thế, muốn tổ chức đánh lớn ở đồng bằng, bộ đội chủ lực cần phải giải quyết về mặt chiến thuật và tư tưởng vì phải tác chiến với quân cơ động của Pháp có phi pháo yểm trợ, phải đánh cả ban ngày và đánh địch cố thủ trong công sự kiên cố…
Đây là những khó khăn đối với bộ đội chủ lực, nên Tổng Quân ủy chỉ nêu yêu cầu bộ đội chủ lực dùng những phương thức hoạt động thích hợp để tiêu diệt từng bộ phận nhỏ sinh lực địch, hỗ trợ chiến tranh du kích phát triển.
Bên cạnh đó, tăng cường hoạt động ở Thượng Lào và ở các chiến trường khác để phân tán khối cơ động chiến lược của địch đang co cụm ở Đồng bằng Bắc Bộ. Các đại đoàn chủ lực như 308, 320 nhận được lệnh bố trí lực lượng sẵn sàng đề phòng địch đánh lên Việt Bắc, đánh ra Chi Nê, Nho Quan, đồng thời tập trung huấn luyện bộ đội đánh công kiên và đánh vận động, đánh ban ngày trong điều kiện quân địch có máy bay, pháo binh yểm trợ.
Để triển khai Kế hoạch Navarre, Bộ chỉ huy Pháp ở Đông Dương đề nghị Chính phủ Pháp tăng viện hai sư đoàn (rút từ khối Bắc Đại Tây Dương - NATO). Chính phủ Mỹ đã dành khoản viện trợ đặc biệt 385 triệu đô la cho đạo quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương. Đến giữa tháng 9/1953, số quân cơ động của Pháp ở Đồng bằng Bắc Bộ đã lên tới tám binh đoàn bộ binh và dù; bảy binh đoàn xe thiết giáp, hai binh đoàn xe lội nước. Bộ chỉ huy Pháp chủ động mở hàng loạt cuộc hành quân ở Đồng bằng Bắc Bộ như Clốt, Cá Măng, trù tính đánh ra Tây Nam Ninh Bình, vùng tự do Liên khu 5…
Tổng chỉ huy Navarre yêu cầu cấp dưới phải hành động nhanh hơn đối phương, phải điều khiển chiến trận… nắm quyền chủ động bằng cách phóng ra những cuộc hành quân chớp nhoáng, đúng lúc, cho đến khi Việt Minh thật sự cảm thấy là họ bị săn đuổi.
Trước kế hoạch và hành động của địch, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ thị cho Tổng Quân ủy, Bộ Tổng tư lệnh nghiên cứu xác định phương án tác chiến mới thích hợp, tập trung vào việc phân tán lực lượng cơ động của địch.
Bộ Tổng tham mưu đã xây dựng phương án tác chiến, nội dung chính là đẩy mạnh chiến tranh du kích trên các chiến trường để giam chân, tiêu hao địch; mở một số chiến dịch tiến công trên các địa bàn chiến lược hiểm yếu, nhưng địch sơ hở, buộc chúng phải điều lực lượng cơ động đến đối phó. Nếu địch tiến công ra vùng tự do, tập trung chủ lực đánh tiêu diệt lớn.
Trên cơ sở của phương án tác chiến mới, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã họp mở rộng tại núi Hồng, Định Hóa, Thái Nguyên, vào cuối tháng 9, đầu tháng 10/1953, bàn về kế hoạch tác chiến Đông Xuân 1953-1954.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp, thay mặt Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh trình bày chủ trương đưa một số đơn vị chủ lực lên hoạt động ở Tây Bắc, phối hợp với bộ đội Pathét Lào mở các đợt hoạt động, tiến công tại những nơi địch sơ hở để buộc chúng phải phân tán lực lượng đối phó. Đồng thời, đẩy mạnh chiến tranh du kích trên các chiến trường, đặc biệt là ở Đồng bằng Bắc Bộ.
Phương châm tác chiến được Bộ Chính trị xác định là "Tích cực, chủ động, cơ động, linh hoạt." Chủ trương tác chiến trong Đông Xuân 1953-1954 là sử dụng một bộ phận chủ lực mở những cuộc tiến công vào những hướng địch sơ hở, đồng thời tranh thủ cơ hội tiêu diệt địch trong vận động ở những hướng địch có thể đánh sâu vào vùng tự do của ta; trong lúc đó, đẩy mạnh chiến tranh du kích ở vùng địch tạm kiểm soát.
Cụ thể, trên chiến trường miền Bắc, sử dụng một bộ phận chủ lực mở cuộc tiến công đánh lên hướng Tây Bắc, tiêu diệt quân địch còn chiếm đóng Lai Châu, giải phóng hoàn toàn Tây Bắc. Đề nghị phối hợp với Pathét Lào mở cuộc tiến công ở Trung Lào, tiêu diệt sinh lực địch, mở rộng vùng giải phóng. Vì hành động của quân địch chưa rõ rệt nên trước mắt bố trí bộ phận quan trọng chủ lực tại một địa điểm cơ động, giấu kín lực lượng, sẵn sàng hành động. Nếu địch tăng cường lực lượng cho Tây Bắc, sẽ điều chủ lực lên để tiêu diệt…
Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì hội nghị, kết luận về hướng hoạt động, lấy Tây Bắc làm hướng chính, các hướng khác là hướng phối hợp. Hướng chính hiện nay không thay đổi, nhưng trong hoạt động thì có thể thay đổi. Phép dùng binh là phải thiên biến vạn hóa.
Trên cơ sở phương án tác chiến được xác định, Bộ Tổng tham mưu đã xây dựng kế hoạch sử dụng các đơn vị chủ lực và phối hợp tác chiến trên các chiến trường.
Như vậy, đến trung tuần tháng 10/1953, Kế hoạch tác chiến trong Đông Xuân 1953-1954 đã được thông qua và xúc tiến triển khai. Đại đoàn 316 nhận được lệnh tiến công tiêu diệt quân Pháp ở Lai Châu, giải phóng hoàn toàn khu Tây Bắc. Sau khi giải phóng Lai Châu, Trung đoàn 148 sẽ phối hợp với bộ đội Pathét Lào tiến công giải phóng Phongxalỳ.
Giữa tháng 11 năm 1953, Đại đoàn 316 hành quân lên Tây Bắc. Tình báo Pháp phát hiện sự chuyển quân này, ngay lập tức báo cáo cho Tổng chỉ huy Navarre. Sự phản ứng tức thời của Bộ chỉ huy Pháp, cụ thể là của Navarre, đưa quân dù lên chốt chặn ở Điện Biên Phủ, vừa ngăn không cho chủ lực ta tiến lên Lai Châu, đặc biệt là tiến sang Lào, đã tạo nên một bước ngoặt có lợi cho cuộc kháng chiến và gây ra hậu quả tồi tệ cho cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp. Từ đây, Điện Biên Phủ từ chỗ không được nhắc đến trong kế hoạch của Navarre cũng như kế hoạch tác chiến Đông Xuân 1953-1954 của ta, lại nhanh chóng trở thành tâm điểm trong kế hoạch điều hành của cả hai bên.
Chọn Điện Biên Phủ - Một quyết định lịch sử
Ngày 20/11/1953, trong khi cán bộ từ cấp trung đoàn trở lên, được Bộ Tổng tư lệnh triệu tập, đang dự cuộc họp phổ biến kế hoạch tác chiến Đông Xuân 1953-1954, thì Navarre vội vã tung 6 tiểu đoàn lên chiếm đóng Điện Biên Phủ. Sự bị động đối phó của Pháp bắt đầu bộc lộ.
Mặc dù Bộ chỉ huy Pháp lúc đó vừa kết thúc chiến dịch Hải Âu với 32 tiểu đoàn bộ binh, pháo binh, thiết giáp tham chiến, có cả hải quân và không quân yểm trợ, đánh vào khu vực Rịa, Nho Quan và phía Bắc Thanh Hóa, đang tỏ ra chủ quan về cái gọi là giành lại được "sự chủ động" trên chiến trường, nhưng chỉ cần một hoạt động tác chiến của ta đang triển khai một cách bình thường như vậy đã khiến kế hoạch của Bộ chỉ huy Pháp bị đảo lộn hoàn toàn, buộc phải quay sang đối phó với hoạt động của ta.
Động thái này của quân Pháp, với việc bị động chấp nhận cuộc quyết đấu ở Điện Biên Phủ, càng minh chứng cho chủ trương của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sáng suốt, nhạy bén khi đề ra kế hoạch tác chiến Đông Xuân 1953-1954, lại càng tỏ rõ sự đúng đắn, quyết đoán kịp thời khi quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ, dồn toàn lực cho trận đánh quyết định này.
Quyết định chọn Điện Biên Phủ của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, thông qua báo cáo và sự chuẩn bị, xây dựng kế hoạch chiến dịch của Tổng Quân ủy, Bộ Tổng tư lệnh, Bộ Tổng tham mưu, dựa trên các căn cứ sau:
Một là, cuộc kháng chiến đã lớn mạnh, đang ở giai đoạn liên tiếp mở ra các chiến dịch chủ động tiến công quân Pháp. Thế và lực của cuộc kháng chiến đến thời điểm đó cho phép mở trận quyết chiến chiến lược để giành thắng lợi, kết thúc chiến tranh.
Hai là, mặc dù so sánh lực lượng về quân sự còn thua kém địch cả về quân số (ta 290.000/địch 449.000), vũ khí, trang bị, phương tiện chiến tranh, nhưng trình độ và kinh nghiệm tác chiến của bộ đội đã được nâng lên rất nhiều. Hình thức phòng ngự kiểu tập đoàn cứ điểm tuy bộ đội ta chưa đánh thắng được nhưng không phải là hoàn toàn mới mẻ và không thể đánh thắng được, một khi có cách đánh phù hợp, có pháo binh hạng nặng và tập trung ưu thế binh lực áp đảo địch trong phạm vi một chiến dịch.
Ba là, Bộ chỉ huy quân Pháp đã tỏ rõ sự bị động về chiến lược và chiến dịch khi đem một lực lượng lớn quân cơ động tinh nhuệ lên địa bàn Điện Biên Phủ xa xôi, chỉ có thể tiếp tế bằng đường không, tổ chức phòng ngự, chờ bộ đội ta tiến công để đối phó lại. Đây là một tính toán sai lầm của Tổng chỉ huy Navarre dựa trên sự đánh giá sai lầm và chủ quan về khả năng tiến công của đối phương, mà ta có thể lợi dụng để đánh bại kẻ thù bằng ý chí quyết tâm, tinh thần dũng cảm của toàn quân, toàn dân.
Bốn là, chủ trương của Đảng, căn cứ vào thực tiễn chiến trường, không phải và không thể đánh tiêu diệt hoàn toàn đạo quân Pháp xâm lược, mà tập trung lực lượng vào một đòn quyết định nhằm đánh sụp ý chí tiếp tục chiến tranh, buộc Bộ chỉ huy Pháp phải thừa nhận một thực tế là không thể thắng Việt Nam bằng sức mạnh quân sự. Thực tế là, sau thất bại to lớn ở Điện Biên Phủ, toàn bộ hơn 16.000 quân địch phòng thủ trong tập đoàn cứ điểm này bị tiêu diệt, bị thương, bị bắt sống tuy chỉ chiếm 4% tổng binh lực của đội quân viễn chinh Pháp và quân đội các quốc gia liên kết (thân Pháp hoặc do Pháp chỉ huy) ở Đông Dương, nhưng ý chí xâm lược đã hoàn toàn bị tiêu tan bởi hình thức phòng ngự cao nhất của Pháp cuối cùng cũng đã bị đánh bại.
Năm là, Bộ Chính trị Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh, toàn quân, toàn dân đều thể hiện sự quyết tâm chiến đấu cao, lòng tin vào thắng lợi. Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy, Bộ Tổng tư lệnh đã dự kiến các tình huống, những hạn chế, khó khăn có thể xảy ra cũng như những yêu cầu thực tế đặt ra phải giải quyết cả về cách đánh tập đoàn cứ điểm, huy động tập trung lực lượng, đảm bảo hậu cần kỹ thuật cho tác chiến dài ngày, đường sá, cũng như việc kéo pháo vào trận địa… Đây là kết quả của những cố gắng nằm ngoài sức tưởng tượng của Bộ chỉ huy Pháp nhưng lại nằm trong khả năng thực hiện của quân và dân ta.
Sáu là, quyết định thay đổi phương châm tác chiến chiến dịch từ "đánh nhanh giải quyết nhanh" sang "đánh chắc tiến chắc," khi tình hình mặt trận đã thay đổi, địch đã tăng cường lực lượng và bố phòng kiên cố, khi khả năng đánh bại tập đoàn cứ điểm chưa đám bảo chắc chắn, cũng là một quyết định lịch sử, góp phần to lớn vào thắng lợi cuối cùng.
Bảy là, quyết định chọn Điện Biên Phủ là trận quyết chiến chiến lược còn mang ý nghĩa lịch sử ở chỗ đây là đòn phối hợp giữa đấu tranh quân sự với đấu tranh ngoại giao rất nhịp nhàng, đúng lúc và hiệu quả. Tháng 11/1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh trả lời phỏng vấn báo Thụy Điển Expressen, đưa ra khả năng đàm phán ngoại giao để giải quyết cuộc chiến tranh. Tháng 1/1954, hội nghị bốn nước lớn họp tại Berlin quyết định triệu một hội nghị quốc tế tại Geneva vào ngày 26/4/1954 để bàn việc giải quyết vấn đề Triều Tiên và cuộc chiến tranh Đông Dương.
Một sự tình cờ thú vị, theo lịch trình, hội nghị Geneva bàn về chiến tranh Đông Dương sẽ họp vào ngày 8/5/1954, thì chiều ngày 7/5, quân và dân ta tiêu diệt hoàn toàn tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, tạo điều kiện rất thuận lợi cho cuộc đàm phán.
Quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ và giành được thắng lợi vang dội trong chiến dịch đó sau 56 ngày đêm chiến đấu kiên cường, đầy khó khăn, gian khổ, hy sinh, còn là một đòn đánh mang tính quyết định vào ý đồ của Chính phủ Pháp ở Paris và Bộ chỉ huy Pháp ở Đông Dương hòng giành một thắng lợi quân sự để bước vào đàm phán trên thế mạnh, rút ra khỏi cuộc chiến tranh hao người, tốn của "trong danh dự."
Quyết định lịch sử mở chiến dịch Điện Biên Phủ là kết quả tổng hợp của nhiều nhân tố là sự lãnh đạo chỉ đạo đúng đắn, sáng tạo, quyết đoán, kịp thời của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh, của Tổng Quân ủy và Bộ Tổng tư lệnh; sự đồng tâm nhất trí, đoàn kết một lòng, dồn toàn lực cho chiến thắng ở giai đoạn cuối cuộc kháng chiến. Đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, dựa vào sức mình và lâu dài của Đảng đã được thể hiện rõ ràng nhất, có sức thuyết phục nhất bằng quyết định lịch sử này./.

Thông tấn xã Việt Nam

SỰ KIỆN DI CƯ NĂM 1954-1955 TRONG LỊCH SỬ VIỆT NAM VÀ THẾ GIỚI

SỰ KIỆN DI CƯ NĂM 1954-1955 TRONG LỊCH SỬ 
VIỆT NAM VÀ THẾ GIỚI

 PGS. TS. Nguyễn Đình Lê

Từ tháng 9 năm 1954 đến tháng 7 năm 1955 là thời kỳ chuyển quân tập kết của 2 bên tham chiến ở theo qui định của Hiệp định Geneva về Việt Nam. Trong khoảng 300 ngày đó, có sự kiện nổi bật diễn ra trong phạm vi cả nước là cuộc di dân, chuyển quân tập kết diễn ra sôi động, lôi kéo trên 1 triệu người lưu chuyển theo các hướng khác nhau.

Cuộc di dân chưa đầy một năm diễn ra trong bối cảnh quốc tế và Ở Việt Nam có nhiều yếu tố mới và dưới tác động của các nhân tố đó tạo nên sự bùng nổ của cuộc di dân có một không hai trong lịch sử dân tộc Việt Nam và cũng là một sự kiện hiếm có trong lịch sử thế giới hiện đại.

Bài viết này muốn trao đổi về những lý do dẫn đến sự dịch chuyển dân cư ồ ạt kể trên và xem xét ý nghĩa, vị thế của sự kiện này trong mối tương quan của lịch sử Việt Nam và lịch sử quốc tế.

Cuộc di dân lịch sử

Trong vòng 300 ngày chuyển quân tập kết, có khoảng 1.200.000 người di dân từ Bắc vào Nam và từ Nam ra Bắc. Trong đó luồng thứ nhất có khoảng trên 1 triệu người, bao gồm lực lượng thuộc các bộ phận trong bộ máy cai trị và chiến tranh, các nhà thầu kinh doanh… của Pháp ở miền Bắc và một số đồng bào theo đạo Thiên chúa…Nói chung, trừ bộ phận quần chúng nhân dân, còn lại là các thế lực chủ chốt trong bộ máy thực dân và lực lượng quân đội Pháp đồn trú ở miền Bắc. Lực lượng rút vào Nam từ các vị trí đóng trú ở vùng đô thị hoặc vùng nông thôn trù phú của các tỉnh thuộc miền Bắc. Lực lượng này vào Nam di cư theo mô hình gia đình và trong số họ có những người thuộc diện có máu mặt có chức sắc nhất định trong xã hội thuộc địa của Pháp.

Ngược dòng di cư kể trên, có khoảng 150.000 người chuyển cư từ vùng phía Nam ra miền Bắc. Họ thuộc diện Quân-Dân-Chính-Đảng - như cách gọi lúc đó, bao gồm cán bộ chiến sĩ trong lực lượng vũ trang, cán bộ chính quyền, Đảng các cấp và một số nhân sĩ trong mặt trận…Họ từng chiến đấu, công tác trong các chiến trường phía Nam, được lệnh rút quân ra Bắc. Họ ra đi từ các vùng sâu, vùng xa, vùng giải phóng. Đa số họ là những người độc thân, vô sản[i].

Với cuộc di cư song song diễn ra 2 chiều như vậy, diễn ra  trong khoảng 10 tháng, khi cuộc chiến ở Đông Dương vừa kết thúc, khi các chiến trường trên cả nước đang ngổn ngang, mà có khoảng 1/30 tổng dân số di chuyển trong thời gian ngắn như vậy là một sự kiện hiếm có trong lịch sử Việt Nam và thế giới[ii].

Cuộc chuyển cư đặc biệt

Cũng như nhiều quốc gia trên thế giới, tiến trình phát triển của lịch sử Việt Nam thường gắn với tiến trình phát triển lịch sử đất nước hoặc mở mang khu vực kinh tế hoặc bờ cõi… Bởi do đặc điểm lịch sử của mình, cho nên đến trước Cách mạng Tháng 8 (1945), các cuộc di dân của người Việt thường theo hướng nhất quán: từ Bắc vào Nam[iii].  

Lịch  sử Việt Nam ghi nhận các cuộc di dân  Nam tiến diễn ra liên tục, xuyên suốt gần 10 thế kỉ, bắt đầu từ triều Lý (thế kỉ XI) đến nửa đầu thế kỉ XX dưới thời thuộc Pháp.

Từ phía Bắc, dần dần cư dân Việt đã Nam tiến và chung sống với cộng đồng khác ở vùng nay thuộc Quảng Bình, Quảng Trị (thế kỉ XX); Huế (thời Trần); Quảng Nam, Quãng Ngãi, Tuy Hòa (thế kỉ XV); cuối XVIII đã xuống vùng Phan Rang; sang thế kỉ XVIII, XIX đã xuống tận vùng đất phương Nam.

Sau đó từ khoảng 3 thế kỉ (từ XVII đến XIX) có các nhóm người khác nhau di cư vào lập nghiệp ở vùng đất sau này là Nam bộ. Họ gồm bộ phận khác nhau, trước hết là lớp hào lí, quan lại mộ dân từ các tỉnh phia Bắc- nhất là vùng Thuận Quảng, đi chiêu mộ dân đinh đến khai thác vùng đất mới theo chỉ dụ của nhà Nguyễn. Bộ phận thứ hai gồm dân xiêu tán kiếm sống. Đó là nông dân ở các vùng từ Quảng Bình trở vào rời quê hương bản quán vào vùng cực Nam kiếm sống. Họ đi tự phát và thường nương tựa vào nhau theo kiểu họ hàng lối xóm. Bộ phận thứ 3 là tội phạm bị lưu đày, họ bị câu thúc đến vùng đất hoang sơ, bị cưỡng chế khai khẩn đất đai như một hình phạt của triều đình. Một bộ phận cư dân khác cùng đồng hành đến vùng đất này là lực lượng lính tập. Họ đi theo quân ngũ vào đồn trú vùng biên thuỳ mà lúc đó gọi Trấn Biên- Phiên Trấn. Lực lượng này được tổ chức chặt chẽ và di chuyển có kế hoạch. Bộ phận cuối cùng là người Hoa ở Trung Quốc tiếp tục vượt biển vào vùng đất lập nghiệp ở đây.

Di dân suốt gần chục thế kỉ- mà điển hình là cuộc di dân vào vùng đất cực Nam trong vòng 3 thế kỉ vừa kể trên, là một nội dung của lịch sử đất nước và mặt khác cũng là đặc điểm di dân Nam tiến trong ngót ngàn năm qua của lịch sử Việt Nam.

Có nhiều lí do cụ thể để dòng người di cư từ Bắc vào Nam diễn ra suốt gần 1.000 năm trong lịch sử Đại Việt trước đó và Việt Nam sau này. Tuy nhiên, trừ nhóm người Hoa sang lánh trú, còn lại hầu hết người Việt khi di cư vào phía Nam đều có lí do chủ yếu từ nhu cầu kinh tế. Nhu cầu mở mang kinh tế có thể vì gia đình, có thể vì quyền lợi của cộng đồng, dân tộc.

Dưới thời cai trị của thực dân Pháp, xu hướng di dân Bắc-Nam càng được đẩy nhanh hơn và nó tỷ lệ thuận với 2 lần khai thác thuộc địa của người Pháp. Chính quyền thực dân Pháp đã huy động hàng chục vạn cu li người miền Bắc vào xây dựng hệ thống đường sá, đồn điền ở phía Nam. Một bộ phận khác không nhiều bị cưỡng bức làm cu li ở vùng cao- kiểu di dân theo hướng Đông – Bắc (từ đồng bằng lên miền núi). Di dân dưới thời kỳ diễn ra bởi kiểu bắt phu cưỡng chế phục vụ thực dân Pháp.

Lịch sử dân tộc Việt Nam từ sau năm 1884 cũng ghi nhận những cuộc di dân của người Việt Nam ra hải ngoại. Trừ một bộ phận nhỏ đi du học hải ngoại, còn lại có 2 sự kiện, 2 luồng chính đó là sự kiện những người yêu nước theo phong trào Cần vương bị thực dân Pháp khủng bố khốc liệt phải vượt biên ra nước ngoài, chủ yếu sang Lào. Sự kiện thứ 2 là khi thực dân Pháp bắt hàng vạn lính thuộc địa xứ An Nam tham gia Chiến tranh thế giới lần thứ nhất.    

Sau năm 1975, có hai luồng di cư lớn lôi cuốn hàng triệu người. Một là những người di tản ra nước ngoài và hai là những người di dân vào Tây Nguyên lập nghiệp. Các cuộc di dân có hay không có tổ chức sau năm 1975 đã có tác động rất lớn đến tình hình phát triển kinh tế - xã hội của cả nước. Tuy nhiên các sự kiện này không giống như cuộc di dân sau tháng 7-1954. Đây là sự kiện đặc biệt, cuộc di dân chưa từng có trong lịch sử Việt Nam: Tính đồng bộ, tổ chức, nhanh chóng và động cơ di dân của sự kiện này khác biệt với các cuộc di chuyển dân cư trong lịch sử Việt Nam.

 Di dân gắn liền phân vùng địa-chính trị

Cuộc di dân nhanh chóng, ồ ạt ở Việt Nam vừa kể trên đã tạo ra khoảng cách chính trị cho 2 vùng miền. Đó là sự tập hợp lực lượng từng đối đầu nhau trong 9 năm chiến đấu về phía 2 vùng địa lý. Lực lượng Việt Minh, kháng chiến ra Bắc, lực lượng của Pháp dồn vào Nam.

Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ đã làm sụp đổ chế độ thực dân Pháp từng tồn tại gần một trăm năm ở Việt Nam. Chiến thắng đó tạo cho lực lượng kháng chiến trên phạm vi cả nước ưu thế vượt trội  so với lực lượng Pháp.

Tuy nhiên, theo các điều khoản của Hiệp định Geneva, hầu hết các lực lượng vũ trang và cán bộ chủ chốt lực lượng kháng chiến ở miền Nam tập kết ra Bắc. Họ là lực lượng tiên phong, đi đầu, quyết định trong cuộc chiến tranh nhân dân thần thánh của mọi vùng đất phương Nam. Dù cuộc kháng chiến ở đâu cũng do nhân dân quyết định, nhưng họ là linh hồn của cuộc đấu tranh sinh tử vói kẻ thù. Đặc biệt ở vùng đất phía Nam, xa Trung ương, thì vai trò của các cán bộ Quân-Dân-Chính-Đảng vô cùng quan trọng.

Cùng với việc rút quân ra Bắc, lực lượng kháng chiến cũng bàn giao toàn bộ vùng giải phóng ở miền Nam cho đối phương kiểm soát. Vùng giải phóng ở miền Nam từng trải qua những thời kỳ thăng trầm khác nhau, nhưng vào Đông Xuân 1953-1954 đã phát triển vượt bậc. Tại miền Trung, vùng giải phóng, tự do rộng lớn mênh mông. Người Pháp chỉ kiểm soát được vùng ven biển nhỏ hẹp từ bến phà Ròn đến Đà Nẵng. Tại vùng Nam Bộ, vùng giải phóng đã bao trùm khắp nơi và vùng đối phương kiểm soát bị thu hẹp tối đa.

Chuyển quân tập kết, lực lượng việt Minh đã bàn giao toàn bộ vùng giải phóng cho đối phương kiểm soát. Đối kháng về địa-chính trị từng có ở miền Nam đã không còn sau thời kỳ chuyển quân tập kết.

Mặt khác, chính quyền kháng chiến các cấp ở miền Nam cũng giải thể sau tháng 7-1954. Chính quyền kháng chiến, chính quyền cách mạng của nhân dân ở miền Nam được xây dựng trong Cách mạng Tháng 8 (1945) và trưởng thành vượt bậc trong 9 năm kháng chiến. Thực hiện Hiệp định, nên Chính quyền nhân dân, thành quả của Cách mạng Tháng 8 (1945) và 9 năm kháng chiến, cũng phải giải thể.

Tình hình cũng có phần giống như vậy nhưng theo chiều ngược lại. Lực lượng thuộc đội quân xâm lược của thực dân Pháp có đến hàng chục vạn quân cũng lần lượt rút khỏi miền Bắc. Hệ thống chính quyền của Pháp và các công sở, cơ sở sản xuất kinh doanh… của Pháp từng đóng trú ở vùng đồng bằng, đô thị cũng rút vào Nam, giao toàn bộ vùng Bắc vĩ tuyến 17 cho  chính phủ Việt Nam -  Dân chủ - Cộng hòa kiểm soát. Toàn bộ hệ thống tề ngụy của Pháp ở miền Bắc không còn.

Việc tiếp quản miền Bắc trong năm 1954-1955 đã xóa bỏ hoàn toàn vùng tạm chiếm trước đây và quá trình đó diễn ra theo chiều hướng giải kinh tế - xã hội thời thuộc Pháo trên phạm vi toàn miền Bắc.

Như vậy, với việc 2 bên thực hiện chuyển quân tập kết đã mở ra phân vùng địa-chính trị mới. Vùng địa-chính trị này khác sự phân vùng thời kỳ 9 năm. Trong 9 năm chiến tranh (1945-1954) có vùng do Việt Minh kiểm soát và vùng còn lại do đối phương kiểm soát. Sự phân vùng này có ngay từ ngày đầu cuộc chiến và sự biến chuyển của nó tùy theo nhịp điệu cuộc chiến trên chiến trường. Xu hướng chung là vùng Việt Minh (còn gọi vùng Giải phóng) ngày càng mở rộng và vùng đối phương kiểm soát ngày càng thu hẹp. Tuy nhiên nói chung vùng Giải phóng thuộc vùng núi, vùng sâu, vùng xa trung tâm đô thị. Vùng còn lại, gồm các trung tâm đô thị, huyết mạch giao thông do Pháp kiểm soát. Địa-chính trị như vậy mở vùng theo kiểu hướng Đông và Tây (Đông vùng đồng bằng, trung châu đô thị; Tây vùng rừng núi thưa dân, hoang vu…).

Vùng địa-chính trị Nam – Bắc (miền Bắc và miền Nam) hình thành sau tháng 7 -1954 đã đặt ra tiền đề để chia cắt đất nước mà phía bên chiến tuyến không muốn thực hiện hiệp thương tổng tuyển cử. Vùng địa-chính trị với tầm vóc qui mô một quốc gia đã có liên đới đến cuộc di cư năm 1954-1955. Một đất nước thống nhất lại bị phân chia thành 2 cực sau 1954.

Trong lịch sử Việt Nam, việc phân chia, cát cứ, đặc biệt phân chia Trịnh-Nguyễn đã từng tồn tại hàng trăm năm. Tuy nhiên sự chia cắt này không phải vì ý thức hệ xã hội như thời kỳ sau 1954, mà ở đây thực chất là chuyện vương triều, kiểu “vua Lê, phủ Chúa” hay là đất nước có một lúc 2 thế lực phong kiến đối kháng, phân quyền[iv].

Tính chất sự phân chia đất nước ở Việt Nam từ sau 1954 khác các sự kiện phân ly từng tồn tại ở mấy thế kỉ trước. Sự phân chia này phản ánh kết quả cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của thời kỳ trước và từ đó nó khoảng cách chính trị (political gap) giữa 2 vùng càng sâu sắc. Sự phân chia đó mang tính thời đại: đấu tranh giữa hệ thống xã hội chủ nghĩa và thế giới phương Tây.

Di dân mở ra cuộc đụng đầu mới quyết liệt

Việc chuyển quân tập kết nhằm giải quyết vấn đề xung đột vũ trang của 2 bên sau Điện Biên Phủ. Tình thế chiến trận cài răng lược giữa lực lượng Việt Minh và quân đội Pháp trong 9 năm kháng chiến từng tồn tại khắp 3 miền Trung – Nam – Bắc đã được giải quyết bằng việc chuyển quân tập kết kể trên.

Từ các vùng tập kết tạm thời xa nhất ở Đồng Tháp Mười, Xuyên Mộc, Cà Mau đến vùng rừng núi Kon Tum, qua Bình Định, Quãng Ngãi, Bến Hãi, đã có khoảng 14 - 15 vạn người ra Bắc theo đường mòn trên dãy Trường Sơn, hoặc đi trên các tàu của Ba Lan, Liên Xô...

Với việc di dân, chuyển vùng tập kết trong gần một năm, trên đất nước Việt Nam đã xuất hiện khu vực địa-chính trị mới: phía bắc Bến Hải qui tụ những lực lượng ưu tú nhất của cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc mà họ vừa góp phần làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ vang dội. Hơn 10 vạn cán bộ, chiến sỹ ra Bắc từng là lực lượng trụ cột cho cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam. Mặt khác lực lượng này cũng là thành tựu và kết quả của 9 năm trường chiến đấu của nhân dân miền Nam.

Quá trình qui tụ những lực lượng kháng chiến trung kiên nhất của cả nước về miền Bắc và đồng thời gần như tất cả những lực lượng thù địch với công cuộc chiến đấu giải phóng dân tộc của nhân dân ta đang trú đóng ở miền Bắc đi vào Nam, đã tạo nên một sức mạnh vượt trội mới cho lực lượng cách mạng, lực lượng kháng chiến cả nước tại miền Bắc.

Do điều kiện cách mạng lúc đó, nên hầu hết lực lượng cách mạng miền Nam, đặc biệt lực lượng vũ trang, phải tự túc mọi mặt. Chi viện của Trung ương cho miền Nam, đặc biệt vùng cực Nam rất ít. Do đó nếu như ở chiến trường chính, lực lượng vũ trang cách mạng có điều kiện thành lập 5-6 đại đoàn chủ lực thì ở miền Nam chủ yếu cấp trung đoàn hoặc tiểu đoàn. Toàn bộ vùng miền Trung chỉ có đại đoàn 325 hoạt động.

Việc rút hầu như toàn bộ cán bộ, chiến sỹ của lực lượng vũ trang cách mạng nói riêng và toàn thể cán bộ đảng viên chủ chốt từng hoạt động ở miền Nam trong thời kỳ tập kết đã để lại khoảng trống nhất định trong lực lượng đấu tranh của nhân dân miền Nam. Đồng bào, đồng chí ở lại miền Nam sau tháng 7-1954 đã không còn có đủ những ưu thế của mình vốn có khi đối mặt với kẻ thù như trong thời kỳ kháng chiến 9 năm. Nhìn trong phạm vi cục bộ, sức mạnh và lực lượng đấu tranh của nhân dân miền Nam sau sự kiện đó đã giảm rất nhiều.

Mặt khác, cùng với việc giải thể chính quyền kháng chiến các cấp và bàn giao vùng giải phóng rộng lớn cho đối phương kiểm soát, vô tình đã tạo nên một thực tế là hình như cách mạng miền Nam đã đi từ có về không, từ mạnh sang yếu. Thực sự tương quan đấu tranh sau thời kỳ tập kết trở nên bất lợi cho nhân dân miền Nam.

Trong khi đó, với việc qui tụ đạo quân từ miền Bắc về miền Nam, gom nhóm tất cả các thế lực thù địch với Việt Minh ở miền Bắc vào Nam, đối phương đã tạo một cục diện mới, có phần giống miền Bắc: là qui nhóm những bộ phận, lực lượng từng thân Pháp hay tham gia vào bộ máy của thực dân Pháp trong thời kỳ Pháp cai trị nước ta.

Chính vì thế, cuộc di dân nói chung và sự kiện tập kết nói riêng đã tạo nên một diện mạo chính trị mới ở Việt Nam: hai thế lực đối lập có xu hướng tập hợp theo 2 cực qua đường giới tuyến quân sự tạm thời là vĩ tuyến 17. Với những đặc điểm qui tu lực lượng như vậy, cuộc đối đầu, đụng độ giữa 2 bên trong cuộc chiến đấu mới sẽ diễn ra vô vùng quyết liệt. Và thực tế cuộc xung đột khốc liệt đó kéo dài hơn 2 thập kỉ, ác liệt gấp bội phần cuộc kháng chiến lần thứ nhất.

Bộ phận của chiến tranh lạnh

Kết thúc Sau chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử, người Pháp rút khỏi Việt Nam và thay chân Pháp, người Mỹ vào dựng lập Việt Nam Cộng Hòa. Trong khi đó, nước Việt Nam -  Dân chủ - Cộng hòa đã ra khỏi cuộc kháng chiến, bắt đầu thời kỳ mới: xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Nhìn góc độ khác của 2 thể chế mới lập, đó là hình ảnh thu nhỏ của thế giới, của chiến tranh lạnh.

Việc di dân, tập kết lực lượng vào 2 phía Nam-Bắc vỹ tuyến 17 là sự kiện kết thúc cuộc chiến tranh 9 năm, nhưng mặt khác lại mở ra cuộc xung đột kéo dài 21 năm (1954-1975).

Việc chuyển cư tập kết là điều kiện khách quan tạo nên khoảng cách chính trị 2 miền và nội dung của đó chuyển hóa nhanh chóng theo xu thế lịch sử lúc đó.

Thoạt đầu, lực lượng đối lập 2 bên là Việt Minh với thực dân Pháp xâm lược. Việt Minh từng đồng nghĩa với độc lập dân tộc và đó là biểu tượng của phong trào kháng chiến chông Pháp (1945-1954). Việc di dân và sự can dự mới từ bên ngoài cùng với một số yếu tố khác đã đẩy lực lượng Việt Minh thành Việt Cộng. Cuộc chiến về ý thức hệ có ngay khi cuộc di cư ồ ạt diễn ra.

Cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà diễn ra từ năm 1954 đến năm 1975 vừa mang tính nội chiến (thống nhất tổ quốc), nhưng mặt khác, nó còn là hình ảnh thu nhỏ của chiến tranh lạnh, của cuộc đấu tranh từng được gọi giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản, giữa nước Nga Xô viết với Hoa Kì.

Sự kiện chuyển cư 1954-1955 đã hàm chứa tất cả tính chất trên và nó góp phần đưa lịch sử Việt Nam thành một bộ phận quan trọng, nổi bật của lịch sử thế giới trong thập niên 1950-1970.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[i] Có khoảng hơn 1 triệu người miền Bắc vào Nam, bao gồm lực lượng trong hệ thống chính quyền và quân sự của Pháp ở miền Bắc, hàng chục vạn giáo dân, một số nhà kinh doanh, một số công chức, kỹ sư bác sỹ… và ở miền Nam có khoảng 150.000 cán bộ, chiến sỹ và học sinh miền Nam ra Bắc. (Xem: Lịch sử Việt Nam 1954-1975, NXB Giáo dục, H, 2010, tr. 6-7)

[ii] Đây là con số chúng tôi ước tính. Vì chưa có số liệu cụ thể dân số Việt Nam năm 1954. Chúng tôi tính theo số liệu dân số Việt Nam năm 1943 có khoảng 22.600.000 người (Theo  Số liệu thống kê Việt Nam thế kỉ XX. Tập 1,  Nxb. TCTK, Hà Nội, 2004, tr. 37). Và số liệu dân số Việt Nam năm 1976 có khoảng : 49.000.000 người (Số liệu thống kê Việt Nam thế kỉ XX. Tập 2, Nxb. TCTK, Hà Nội, 2004, tr. 42)

 [iii] Còn hướng người di dân từ Tây sang Đông, và ngược lại từ Đông về Tây (từ vùng rừng núi về đồng bằng và từ miền xuôi về miền ngược) có xẩy ra nhưng không đáng kể.

[iv] Nguyễn Quang Ngọc (cb) (2012), Tiến trình Lịch Sử Việt Nam, Nxb. Giáo Dục, Hà Nội, tr.137.

BƯỚC ĐẦU TÌM HIỂU VỀ CÁC GIỐNG LÚA VÀ NGHỀ TRỒNG LÚA Ở VIỆT NAM THẾ KỶ XVIII-XIX

BƯỚC ĐẦU TÌM HIỂU VỀ CÁC GIỐNG LÚA VÀ NGHỀ TRỒNG LÚA Ở VIỆT NAM THẾ KỶ XVIII-XIX
 
PGS.TSKH Nguyễn Hải Kế
 
Trong lịch sử sản xuất nông nghiệp, việc tìm hiểu giống cây trồng nói chung, đặc biệt là các giống lúa với tư cách là loại cây lương thực chủ yếu của nước ta, có ý nghĩa quan trọng. Nó không chỉ bao hàm việc làm sáng tỏ sự phát triển kinh tế, chính trị trong tiến trình lịch sử, mà còn góp phần khám phá, tiếp thu kho tàng tri thức khoa học nông nghiệp quý giá được ông cha ta đúc rút trong công thức nổi tiếng: nước-phân-cần-giống.
Mặt khác, trong khi cả nước tập trung cao độ trí tuệ, sức lực để “phát triển vượt bậc về nông nghiệp, giải quyết cho được vấn đề lương thực”[1], công tác nghiên cứu khoa học phục vụ nông nghiệp có trách nhiệm nặng nề như xây dựng hệ thống quốc gia, phân vùng quy hoạch nông nghiệp... Nhưng cơ sở khoa học của công tác này, ngoài yêu cầu của các yếu tố tự nhiên, hiện đại… còn gắn bó với kinh nghiệm, với truyền thống.
Bước đầu tìm hiểu các giống lúa và kỹ thuật trồng lúa ở Việt Nam chúng tôi mới chỉ đề cập đến trong phạm vi của thế kỷ XVIII-XIX vì lý do sau:
- Với tư cách là một tư liệu sản xuất quan trọng của sản xuất nông nghiệp, giống cây trồng là sản phẩm lao động trực tiếp, liên tục, lâu dài của con người. Tập đoàn giống lúa ở thế kỷ XVIII-XIX có thể coi là đại diện cao nhất cho sự phát triển về hình thái sinh vật, của kỹ thuật trồng lúa trong thời Cổ - trung đại ở Việt Nam.
- Đến thế kỷ này, dân tộc Việt Nam đã trải qua hàng ngàn năm phát triển, xây dựng, tích lũy được một kho tàng tri thức nông nghiệp phong phú. Bên cạnh dân ca, ca dao, tục ngữ gắn bó với nghề nông, đã xuất hiện những tác phẩm ở nhiều mức độ khác nhau, đề cập đến các khía cạnh của sản xuất nông nghiệp như đất đai, khí hậu, giống lúa, v.v… Những tác phẩm này thông thường là các loại địa phương chí như Nghệ An ký của Bùi Dương Lịch, Hưng Hóa ký lược của Phạm Thận Duật, Cao Bằng thực lục của Nguyễn Hữu Cung… Song đề cập nhiều và tập trung hơn về lúa và kỹ thuật canh tác là những tác phẩm: Vân Đài loại ngữ, Phủ Biên tạp lục của Lê Quý Đôn, Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức, Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn.
Vân Đài loại ngữ[2] là cuốn bách khoa toàn thư đúc kết những tri thức tự nhiên, xã hội Việt Nam cho đến thế kỷ XVIII của nhà bác học Lê Quý Đôn (1726-1783). Ông hoàn thành tác phẩm này vào ngày 1 tháng 9 năm 1773 (rằm tháng 7 năm Quý tỵ). Với cách biên soạn “trích lấy các sự tích trong truyện, ký, rồi xếp đặt lại theo ý mình mà bình luận” Lê Quý Đôn đã dành 320 điều Phẩm vật để tìm hiểu về lúa và các loại cây trồng, vật dụng khác.
Lê Quý Đôn đã chú ý miêu tả, nhận xét từ tên gọi, thời vụ, đặc điểm sinh vật đến chỉ tiêu kinh tế của các giống lúa. Ở một số giống, ông còn ghi cụ thể địa phương sản xuất kỹ thuật trồng cấy, bón phân, mức đẻ nhánh. Tuy vậy có một số giống như Sài đường, Bồ lộ…, Lê Quý Đôn chỉ đề cập đến đặc điểm sinh vật mà không nhắc đến đặc điểm sản xuất. Ông cũng chỉ chia ra hai loại vụ hạ, vụ thu mà không ghi rõ tháng cấy, gặt, thậm chí không thấy chép đến một giống nếp chiêm nào.
Phủ Biên tạp lục[3] được Lê Quý Đôn hoàn thành trong thời gian làm Hiệp trấn xứ Thuận Hóa (Bình - Trị - Thiên đến Nghĩa Bình ngày nay) năm 1776.
So với Vân Đài loại ngữ thì Phủ Biên tạp lục ghi chép về lúa cụ thể hơn, từ thời vụ, đặc điểm sản xuất đến chỉ tiêu kinh tế. Trong phạm vi từng phủ, thậm chí từng tổng, như tổng Bái Ân, huyện Minh Linh, ông đã đề cập chi tiết về đất đai, canh tác. Song một số giống như A suốt, Héo trắng… chỉ được đề cập qua, các giống lúa ở Đồng Nai, Gia Định được chép đến ít ỏi, cả vùng Quảng Nam không thấy chép tới.
Với phạm vi thời gian và địa bàn trên, Vân Đài loại ngữ và Phủ Biên tạp lục cho chúng ta một tập hợp các giống lúa ở thế kỷ XVIII.
Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức (?-1825). Khác với Lê Quý Đôn, ông không nêu từng giống lúa mà chỉ viết: “loại lúa đạo có rất nhiều, đại khái có hai loại Canh và Thuật…”[4].
Về thời vụ, ông chú ý đề cập khá chi tiết khi nhận xét công việc cày cấy ở các trấn, huyện, vùng Đồng Nai - Gia Định.
Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn (đời Tự Đức 1864-1875)[5] đã đề cập đến lúa, thời vụ cấy lúa trong phần khí hậu của các tỉnh, tập trung nhất là mục Thổ sản phủ Thừa Thiên, quyển 2. Tác phẩm này trên cơ sở tham khảo các sách vở của Việt Nam và Trung Quốc có từ thời trước đến bây giờ, đề cập khá cụ thể các đặc điểm sinh vật, chỉ tiêu kinh tế của các giống lúa.
Song Đại Nam chỉ chép có 19 giống nếp, 20 giống tẻ “các tỉnh đều có”, ngoài ra “tục gỏi là lúa Thốc, lúa Vàng, Trĩ…, phẩm loại rất nhiều” không được đề cập đến.
Có thể coi Gia Định thành thông chí và Đại Nam nhất thống chí là tập hợp các giống lúa ở thế kỷ XIX.
Cả một quá trình trồng lúa lâu dài, phong phú hàng ngàn năm của nông dân Việt Nam chỉ được phản ánh ít ỏi qua tư liệu xưa, và quan niệm cũng không thống nhất. Mặt khác, do điều kiện sản xuất riêng rẽ của thời phong kiến, tình trạng mùa màng xen kẽ, giống má phức tạp; hơn nữa, do yêu cầu tích cực tất yếu nhằm thay thế các giống lúa xấu bằng những giống lúa mới tốt hơn…, vì thế ngoài những điều chép trong thư tịch, chúng ta không có một sưu tập giống thực tế của đương đại. Tất cả những hạn chế trên làm cho việc tập hợp, phân tích, so sánh nhận xét các giống lúa không được đầy đủ và cụ thể.
Tuy vậy, dựa trên những nét chung được các tài liệu đề cập đến như đặc điểm sản xuất thời vụ, đặc điểm sinh vật…, đối chiếu với khái niệm phổ thông về giống. (“Có những đặc tính hình thái sinh học, di truyền và những đặc tính kinh tế giống nhau trong một khu vực nào đó…”)[6], đồng thời kết hợp với kết quả điều tra dân tộc học ở những vùng Nghệ Tĩnh, Hải Hưng, Hải Phòng, Thái Bình…, chúng tôi tiến hành sắp xếp, phân loại hệ thống bước đầu các giống lúa ở thời kỳ này.
Nhận xét sơ bộ về các giống lúa và kỹ thuật canh tác ở thế kỷ XVIII-XIX
Thành tựu của các khoa sử học, khảo cổ học, nông nghiệp… ngày càng chứng minh rõ rằng: Đông Nam Á - Việt Nam là một quê hương của lúa nước, là nơi có nghề trồng lúa khá sớm.
Từ buổi đầu tiên người Việt cổ biết đến nông nghiệp, biết đến cây lúa nước Oryza - Satyva, hàng ngàn năm đã đi qua. Đến thế kỷ XVIII-XIX, cư dân nông nghiệp Việt Nam với bao nhiêu mồ hôi, trí tuệ đã không ngừng gây dựng, chọn lựa được một tập đoàn giống lúa đông đảo về số lượng, phong phú về loại hình, có nhiều phẩm chất tốt, phù hợp với điều kiện tự nhiên và xã hội Việt Nam.
Chỉ mới thống kê qua Vân Đài loại ngữ và Phủ Biên tạp lục đã có tới 120 giống lúa nếp, tẻ.
Do đặc tính cơ bản của cây lúa nước là loại cây đầm lầy (Hudro-phyte) “có tổ tiên và họ hàng gần vốn sinh trưởng ở những hồ nước không sâu”[7], ưa nước, ưa nóng, ưa ánh sáng; do điều kiện nhiệt đới gió mùa, vì vậy lúa nước tập trung chủ yếu vào hai vụ hạ và đông (chiêm và mùa, theo cách gọi của cư dân đồng bằng phía Bắc). Điểm này, Dương Phù trong sách Di vật chí, ngay từ thế kỷ I, đã có chép: “Lúa ở Giao Chỉ mỗi năm trồng hai lần vào mùa hè và mùa đông”[8]. Sách Thủy kinh chú còn nói rõ: “Nơi gọi là Bạch điền trồng lúa trắng, tháng bảy làm thì tháng mười chín; nơi gọi là Xích điền thì trồng lúa đỏ, tháng chạp làm thì tháng tư chín”[9].
Vụ mùa bắt đầu cấy vào mùa hè, nóng lắm, mưa nhiều, thích hợp với sinh thái cây lúa hơn là vụ chiêm bắt đầu vào vụ hanh khô.
Vân Đài và Phủ Biên ghi 85 giống lúa mùa, 35 giống lúa chiêm.
Gia Định và Đại Nam chép 31 giống lúa mùa và 15 giống lúa chiêm.
Ở cả hai bảng trên đều cho một tỉ lệ: mùa gần 70%, chiêm khoảng 30%.
Tuy nhiên, do địa hình trải dài trên 15 vĩ tuyến (từ 8 độ 30 bắc, đến 23 độ 22 bắc), nhất là do vị trí đặc biệt của Việt Nam trong châu Á gió mùa, năng lượng bức xạ quanh năm dương, đạt trên 75 kcal/cm2/năm, nhiệt độ trung bình từ 22 độ đến 27 độ C, lượng mưa trung bình gần 2000 mm/năm, bình quân có 0,8-1 km sông hồ trên 1 km vuông đất đai.
Đất nước, nhiệt độ, khí hậu Việt Nam thật thuận lợi cho việc gieo trồng quanh năm[10]. Và, không dừng lại ở mức độ lệ thuộc, mô phỏng thiên nhiên, nông dân Việt Nam đã không ngừng vươn lên khai thác, tranh thủ những lợi thế của thiên nhiên nhiệt đới.
Từ thế kỷ XIII, Trần Phu Sứ của nhà Nguyên, khi sang Đại Việt, đã trầm trồ: “Lúa mỗi năm chín bốn lần, tuy giữa mùa đông mà mạ vẫn mườn mượt”[11]. Đến thế kỷ XVIII-XIX qua tư liệu càng thấy rõ hơn ở Việt Nam quanh năm có cấy cày, gặt hái, ví dụ: “Đinh Châu, Văn Lang, Đại Từ, Phú Lương (Bắc Thái ngày nay) cấy lúa 4 mùa, cứ 3 tháng một lần thu hoạch”[12].
Như thế, các giống lúa có thời gian sinh trưởng trên 100 đến 120 này (theo sự phản ánh của tư liệu, chúng tôi coi những giống lúa có thời gian sinh trưởng như trên là giống lúa ngắn ngày) đã khá phát triển; đặc biệt còn có giống lúa Câu “cấy được 48 ngày thì lúa chín”[13].
Các giống lúa ngắn ngày thường tập trung vào vụ mùa như tám thơm, ba giăng, bát nguyệt… Càng ngày các giống ngắn ngày số lượng càng tăng lên, từ gần 7% (qua Vân Đài và Phủ Biên) đến gần 14% (trong Đại Nam): phải chăng điều đó phản ánh quá trình cố gắng tìm chọn các giống lúa để xen canh tăng vụ của nông dân Việt Nam?
Bên cạnh một số lớn các giống lúa được cấy trồng tập trung ở đồng bằng châu thổ với chế độ nước, đất đai thuận lợi, thì trên dải đất dài 15 vĩ tuyến với nhiều dạng địa hình đất đai khí hậu phức tạp của Việt Nam, người nông dân đã gây trồng được nhiều loại giống thích hợp.
Chân ruộng trũng, úng, có giống lúa cao cây, cứng, đanh dảnh, 100% giống lúa chiêm cấy ruộng sâu chép trong Đại Nam đều cao, cứng, thậm chí có lúa chiêm di “ngập nước một tháng vẫn kết quả”[14].
Ở những vùng nước lợ, nước mặn ven biển có loại chịu mặn tốt như lúa viên, lúa nước mặn.
Những vùng núi cao, hoặc xứ Thuận Hóa (Bình Trị - Thiên ngày nay) được hình thành do phù sa biển, địa hình cồn cát, đầm phá nhiều, nên khó giữ nước, đã gây dựng được các loại lúa không cần nhiều nước, chịu hạn giỏi như lúa vay “không ưa nước, cày đất qua rồi gieo hạt giống…”[15].
Về sự phát triển của các giống lúa, các tài liệu ghi chép không nhiều. Vân Đài chỉ cho biết sức đẻ nhánh của lúa tám sinh, hoa riềng, mít, trung bình là 4 đến 5 nhánh. Nếu so sánh với ghi chép của sách Cổ kim chú “Năm diên quang thứ hai đời vua An đế nhà Hán (123), ở quận Cửu Chân (Thanh Hóa ngày nay), lúa tốt quá, 150 gốc được những 768 bông”[16] thì thấy sức đẻ của lúa đại trà thế kỷ XVIII ngang với những khóm lúa tốt quá ở thế kỷ thứ II.
Những giống lúa được trồng phần lớn có giá trị kinh tế khá cao, phù hợp với điều kiện kinh tế, tập quán xã hội.
Đến thế kỷ này, những phẩm chất tốt của hột gạo như trắng, thơm, dẻo,… ngày càng chiếm tỉ lệ cao và trở thành phẩm chất thường trực. Nếp củ nâu “thổi cơm thơm ngon, để năm ngày vẫn dẻo”[17].
Đặc biệt là các giống lúa tám, như tám thơm, tám xoan, “gạo trắng trong, mùi ngọt thơm, nấu cơm rất ngon để lâu vẫn mềm”[18]. Bên cạnh đó, cư dân nông nghiệp Việt Nam, nhất là ở vùng đồng bằng sông Hồng, sống gắn bó với ngôi nhà tranh, mái rạ, trâu bò, bếp núc… do đó, ngoài yêu cầu về năng suất cao, thơm ngon, cần phải có cái để lợp nhà, nấu bếp, làm thức ăn cho trâu bò, phải chăng vì thế tập đoàn giống lúa xưa cây cao, gần gũi với loại hình Inđica chiếm tỉ lệ cao.
Nếp bàu hương, nếp hoa vàng “hạt tròn, to, sắc vàng, gạo trắng thơm, chín vào tháng tám”[19] đúng tiết trung thu của cư dân nông nghiệp, đã trở thành nếp cốm, thơm đậm đà trong cỗ trông trăng, thành cốm vòng nổi tiếng ở vùng Thăng Long… Trở lại, chính phong tục này, lại kích thích quá trình gây chọn các giống trên theo hướng đó.
*
*          *
Có được tập đoàn giống lúa với những phẩm chất trên, nông dân Việt Nam đã trải qua một quá trình chọn lọc bền bỉ và bồi dưỡng giống.
Nông dân ta quan niệm thật giản dị mà khoa học “tốt giống tốt má” trong khâu liên hoàn “nước-phân-cần-giống”.
Qua Vân Đài và Phủ Biên, chúng tôi nhận thấy ở thế kỷ XVIII, tính địa phương của các giống lúa còn khá sâu sắc, thường mỗi giống lúa kèm theo một địa phương sản xuất: “lúa mộ sản ở Thái Nguyên”, “nếp chuối sản ở Nghệ An”…Thậm chí “năm thứ lúa tẻ héo, vàng, nự và trĩ… chỉ ở tổng Bãi Ân là hợp thổ nghi, còn các nơi khác rất ít màu nên trồng cũng không có thóc”[20].
Đến thế kỷ XIX, bên cạnh các giống lúa địa phương còn phổ biến, những giống lúa trên địa bàn toàn quốc khá lớn. Theo Đại Nam, ít nhất cũng có 19 giống nếp, 20 giống tẻ “các tỉnh đều có”. Nhiều giống lúa ở thế kỷ XVIII còn trong phạm vi địa phương, một trăm năm sau đã nhân lên trên địa bàn rộng lớn với những phẩm chất tốt hơn; chẳng hạn “nếp voi thóc to sản ở Nghệ An”, đến thế kỷ XIX “thân lúa cao, bông lúa thưa, hạt thóc tròn lớn, được nhiều rạ sắc trắng, cơm mềm. Bắt đầu ở Nghệ An, hiện nay các tỉnh đều có”[21].
Trong Vân Đài, Lê Quý Đôn còn chép đến “Người Nam Giao tiếp xúc với người Chiêm, nên trồng được nhiều thứ lúa chín về mùa hạ, gọi là lúa chiêm”[22].
Ngày nay, một số ngành nghiên cứu nông nghiệp (dựa trên các tài liệu khảo cứu về đặc tính sinh vật, nhất là phản ứng của lúa đối với các thời vụ gieo khác nhau trong một năm, tính mẫn cảm đối với ánh sáng dài ngắn của một số lúa mùa sớm ở vùng trung Trung bộ, đã phản ứng gần như lúa chiêm ở miền Bắc) cũng cho rằng “có thể giống lúa chiêm của ta bắt nguồn từ giống lúa mùa sớm ở Chiêm Thành đưa lên miền Bắc và được gieo vào vụ hanh khô. Điều kiện khí hậu từ lâu đời đã huấn luyện cho các giống lúa sớm phương Nam được di chuyển lên phía Bắc phải sinh sống qua mùa đông đã xây dựng dần dần những đặc tính của lúa chiêm”[23].
 
*
*          *
 
Cùng với những ghi nhận về tập đoàn giống lúa, các tài liệu trên còn phản ánh một số mặt của kỹ thuật canh tác nông nghiệp Việt Nam thế kỷ XVIII, XIX.
Điểm chú ý đầu tiên ở đây là công cụ và phương pháp làm đất. Kỹ thuật cày bừa do trâu bò kéo “con trâu đi trước cái cày đi sau”, mà nhiều nhà nghiên cứu cho rằng đã phổ biến ở đầu công nguyên, đến thế kỷ này đã hết sức quen thuộc ở vùng đồng bằng.
Ở mỗi vùng, tùy theo tình trạng đất đai, nông dân ta đã sử dụng một biện pháp cày thích hợp. Ở những chân đất thịt, bừa khó nhỏ, khó lên bùn, thường được cày bừa nhiều lần. Với những nơi đất mặn, cần thấm nước hoặc cát dễ tơi như vùng Đông Thành (Yên Thành, Diễn Châu, Nghệ Tĩnh) hay vùng ven biển Thuận Hóa (Bình - Trị - Thiên), lại chỉ cần “cày đất qua rồi gieo hạt giống”[24].
Nói chung, đối với khâu quan trọng nhất trong quá tình làm đất, vì nó ảnh hưởng đến tính chất của đất nhiều nhất, tốn công nhất, là cơ sở các biện pháp làm đất tiếp sau như bừa, vun xới, công việc cày ruộng đã được nông dân quan niệm thật đúng “nhai kỹ no lâu, cày sâu tốt lúa”.
(Rất tiếc là các hình thức làm đất khác như xếp ải, xới đất “hòn đất nỏ bằng giỏ phân” vốn rất phổ biến ở những vùng như Thái Bình, Nam Định, Hải Dương không thấy các tài liệu ghi chép).
Ở miền núi, nhất là vùng các dân tộc ít người, hình thức “đao canh hỏa chủng” (dùng dao chặt cây, đốt lá to), hay “đao canh thủy nậu” (dùng dao phát nhỏ, dẫn nước vào ruộng) còn khá phổ biến. Vân Đài và Đại Nam còn chép nhiều đến hình thức này, chẳng hạn ở miền núi Thanh Hóa: “Làm ruộng thì không dùng cày bừa, mà chỉ cho từng đàn trâu dẫm nát đất”[25]. Hay trong Gia Định thành thông chí: “ruộng núi ban đầu khai thác thì đốn cây chặt củi đợi cho khô, đốt làm phân tro, khi mưa trồng lúa không cần cày bừa”[26].
Về kỹ thuật cấy lúa, ngày nay chúng ta còn thấy trong dân ca, ca dao những hình thức cấy khác nhau ở từng vùng mà nông dân đã đúc kết được. Chẳng hạn ruộng đất cát thì cấy liền tay, đất thịt thì cấy “chày ngày”, cấy “moi” ở Ninh Bình, cấy “húng” ở Hà Nam ( Hà - Nam - Ninh), hoặc “mạ chiêm đào sâu chôn chặt, lúa mùa vừa đặt vừa đi”[27].
Các tài liệu trên không nhắc đến kỹ thuật này, mà chỉ cho biết chắc chắn ở thế kỷ XVIII, XIX, hình thức gieo mạ phổ biến là cấy lúa. Với kỹ thuật trên, cho phép người nông dân chăm sóc được cây con trong thời kỳ mạ, tận dụng được đất đai trong ruộng cấy, để có thể tranh thủ trồng cây khác, hoặc làm đất kỹ hơn, diệt bớt cỏ dại…; sau ngày cấy lúa có điều kiện phát triển nhanh.
Song bên cạnh ấy ta còn thấy hình thức gieo trực tiếp, thường thường ở những vùng núi cao, đất cát. Ở vùng Thuận Hóa có lúa vay “cày đất qua rồi gieo hạt giống, lại bừa qua một lượt là lúa mọc”[28]. Và ở vùng Đông Thành, Nghệ An “đất toàn cát…, khởi công cày bừa, gieo thóc giống rất dày: ngay ngày gieo giống lại bừa luôn một lượt, thóc và cát lẫn lộn…; không bao lâu lúa mọc lên tốt như cỏ”[29].
Hình thức gieo trực tiếp mà nông dân ở thời kỳ này áp dụng, không phải chủ yếu là các biện pháp kỹ thuật để xen vào các cây trồng, tranh thủ thời gian sinh trưởng hay để dư thêm sức lao động, mà áp dụng vào những nơi đất cao, thiếu nước, hoặc đất cát pha, dễ mất nước.
Phân, yếu tố quan trọng của kỹ thuật trồng lúa, cơ sở vật chất để cấu tạo nên cây trồng, điều kiện quyết định năng suất và sản phẩm, đã được ông cha ta nhấn mạnh “người đẹp về lụa, lúa tốt về phân”. Khí hậu nước ta thuận lợi cho quá trình phân hủy mùn trong đất, và nguồn phân hữu cơ người nông dân Việt Nam thường dùng là phân xanh, phân rác. Nguồn phân đó có thể mang lại do chính biện pháp “đao canh thủy nậu” hay “đao canh hỏa chủng”: đó vừa là một cách làm đất, vừa kết hợp với bón phân, được người trồng lúa thời nguyên thủy áp dụng[30].
Đến thế kỷ này, biện pháp đó còn phổ biến đối với các ruộng đồi núi hoặc vùng đầm lầy mới khai thác. Người ta không chỉ sử dụng những quần thể sinh vật trên ruộng, mà còn dùng chính “lúa còn lại không cắt đi để cho nó thối thành phân bón ruộng càng tốt”[31]. Ngày nay, hình thức vận rạ vẫn còn áp dụng phổ biến trong nông nghiệp, nhất là đối với các loại ruộng trũng.
Các tài liệu trên không thấy chép đến một loại cây phân xanh khá phổ biến, vốn phân bố rộng rãi ở vùng Đông Nam Á, là bèo dâu (Azôba punnata). La Vân, Thái Bình nghề ươm bèo làm phân từ lâu đã trở thành truyền thống, thành quê hương của bèo dâu Việt Nam. Không biết ở thế kỷ này, việc sử dụng bèo hoa dâu đã phổ biến đến mức độ nào? Hay vì bí mật của nghề mà kỹ thuật làm bèo dâu không được truyền bá.
Một hình thức bón phân khác mà Lê Quý Đôn trích lại tác phẩm Tề dân yếu thuật “phép làm cho tốt ruộng thì nên trồng đậu xanh trước, thứ đến đậu nhỏ và vừng. Các thứ cây trồng ấy trồng vào tháng năm tháng sáu đến tháng bảy, tháng tám thu hoạch xong, cày bừa lật úp xuống làm ruộng trồng lúa…; những cây đậu và vừng mà cày, bừa lên như thế sẽ bón cho ruộng tốt ngang với bón phân tằm hay phân bắc”[32]. Chúng ta không biết đến thế kỷ này, kỹ thuật dùng phân bắc, phân chuồng và các loại phân xanh họ đậu đã phổ biến đến mức độ nào, song Trịnh Hoài Đức có nhắc đến một loại phân bằng xác đậu ở vùng Đồng Nai - Gia Định thế kỷ XIX: “xác đậu làm bánh bán cho người ta bón ruộng, mỗi năm sản xuất hơn 400 nghìn cân”[33].
Nông dân còn biết sử dụng một hình thức bồi dưỡng đất trồng khác bằng cách đổi giống lúa cấy trên ruộng là luân canh. Đại Nam nhất thống chí có chép đến một chế độ luân canh vùng ruộng vụ thu tỉnh Quảng Bình và Quảng Ngãi. Chẳng hạn, “tháng 5, tháng 6 cấy, tháng 9, tháng 10 gặt; tháng 2 trồng dưa, tháng 3 trồng đậu, tháng 4, tháng 5, tháng 6 hái quả…”[34].
Sự thay đổi cây trồng trong một năm, trên một mảnh ruộng, nhất là các loại cây họ đậu, vừng, không chỉ có ý nghĩa làm tăng sản phẩm mà còn góp phần nâng cao độ phì cho đất, khắc phục tình trạng sử dụng đất đai mất cân đối, phòng ngừa cỏ dại, sâu bệnh.
*
*          *
 
Trong phạm vi chi phối của quan hệ sản xuất phong kiến chật hẹp, tình trạng sở hữu ruộng đất cá thể vụn vặt, sức sản xuất thấp kém…, tập đoàn giống lúa và kỹ thuật canh tác của Việt Nam đến thế kỷ XVIII-XIX còn bộc lộ rõ những hạn chế sau:
- Tính địa phương sâu sắc, nhỏ hẹp, phức tạp.
- Còn mang tính dã sinh: khả năng đẻ chết, thóc có râu, gạo đỏ cứng… Thế kỷ XVIII gần 30%, đến thế kỷ XIX còn khoảng 20%.
- Phần lớn các giống lúa có thời gian sinh trưởng dài (từ 150 đến 120 ngày), sức đẻ nhánh thấp…, hạn chế rất nhiều khả năng thâm canh tăng vụ, hệ số sử dụng đất đai và năng suất thấp.
- Quá trình chọn, nhân giống còn mang nặng tính kinh nghiệm, tuyển lựa giản đơn.
- Chu kỳ luân canh mới chỉ dừng lại ở sự thay đổi thứ tự cây trồng trong một năm trên một đơn vị diện tích rất hạn chế. Và, càng chưa phải là sự thay đổi về không gian.
Trong chừng mực nhất định, nghề trồng lúa ở Việt Nam thế kỷ XVIII-XIX vẫn chưa vượt khỏi nghề trồng trọt thô sơ.
Tuy nhiên, với sức vươn lên bền bỉ, với tri thức nông nghiệp bao đời gắn chặt, nông dân Việt Nam đã cố gắng tìm cách in dấu lao động của mình vào giới tự nhiên (qua quá trình xây dựng giống cây trồng, trước hết là giống lúa và hàng loạt các biện pháp kỹ thuật canh tác liên hoàn) nhằm đạt tới những thành quả tốt đẹp trong sản xuất nông nghiệp, để ứng đối, hài hòa với thiên nhiên và xã hội. Phương thức đã kinh qua thực tiễn của thời gian đó, chính là thành quả to lớn của cư dân nông nghiệp Việt Nam mà ngày nay chúng ta đang kế thừa phát huy có chọn lọc.
 
Tài Liệu Tham Khảo
[1] Nghị quyết hội nghị Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ II, khóa IV.

[2] Lê Quý Đôn, Vân Đài Loại ngữ, Bản dịch của Trần Văn Giáp, hiệu đính Cao Xuân Huy, Nxb. Văn học, H., 1962, viết tắt là Vân Đài.

[3] Lê Quý Đôn, Phủ Biên tạp lục, Bản dịch của Ngô Lập Chi, in rônêô, Tư liệu Khoa Sử, ĐHTH, R.567, viết tắt là Phủ Biên.

[4] Trịnh Hoài Đức, Gia Định thành thông chí, Bản dịch của Nguyễn Tạo, Sài Gòn, 1972, viết tắt là Gia Định.

[5] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí, Bản dịch của Phan Trọng Điềm, Đào Duy Anh hiệu đính, Nxb. Khoa học Xã hội, H., 1917, viết tắt là Đại Nam.

[6] Phạm Đức Cường, Chọn giống cây trồng, Nxb. Nông thôn, H., 1965, tr.9.

[7] P. X. Erygin, Cơ sở sinh lý của việc tưới nước cho lúa, Matxcơva, 1950, tr.165.

[8] Lê Quý Đôn, trong "Phẩm vật 159", Vân Đài loại ngữ, sđd, tr.178.

[9] Lịch Đạo Nguyên, Thủy kinh chú, quyển 36. Thủy kinh chú sớ, Bắc Kinh, 1955, tr.64-65.

[10] Xem thêm: Nguyễn Đức Chinh, Vũ Tự Lập, Địa lý tự nhiên Việt Nam, Nxb. Giáo dục, H., 1970; Phạm Ngọc Toàn, Khí hậu Việt Nam, Nxb. Khoa học Kỹ thuật, H., 1976.

[11] Trích: Hà Văn Tấn, Phạm Thị Tâm, Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII, Nxb. Khoa học Xã hội, H., 1969.

[12] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí, quyển XX, tập 4, sđd, tr.154.

[13] Lê Quý Đôn, Vân Đài loại ngữ, sđd, tr.175.

[14] Lê Quý Đôn, Vân Đài loại ngữ, sđd, tr.174.

[15] Đồng bằng ven biển Bình - Trị - Thiên (từ nam đèo Ngang trở vào) được chuẩn bị bằng một quá trình biển tiến bào mòn chân dải Trường Sơn, và sau đó được bồi lấp bằng trầm tích phù sa đệ tứ sau vận động nâng lên gần đây của bờ biển Việt Nam. Trong quá trình bào mòn và bồi tụ, tùy tính chất của từng khu vực, tùy hình dạng của đường bờ biển cổ mà đồng bằng có nơi rộng, nơi hẹp, nơi nhiều đụn cát, nơi nhiều đầm phá trong lòng đồng bằng có đồi cát…

Xem thêm: Nguyễn Đức Chính, Vũ Tự Lập, Địa lý tự nhiên Việt Nam, sđd.

[16] Lê Quý Đôn, "Phẩm vật 158", Vân Đài loại ngữ, sđd, tr.173.

[17] Lê Quý Đôn, Vân Đài loại ngữ, sđd, tr.178.

[18] Theo Bùi Huy Đáp, Cây lúa miền Bắc Việt Nam, Nxb. Nông thôn, H., 1964; cho đến những năm 1954-1964, các loại lúa tám thơm với rất nhiều tên gọi khác nhau như tám lùn, tám nhỡ, tám nhỏ, tám trắng, tám đen… vẫn chiếm một tỉ lệ diện tích khá lớn, nhất là vùng trung du và bắc đồng bằng Bắc bộ trên những chân ruộng trung bình hoặc nhiều màu.

Dân gian có câu:

“Thú quê rau cá đã từng

Gạo thơm cơm trắng, chi bằng tám thơm…”

[19] Lê Quý Đôn, Vân Đài loại ngữ, sđd, tr.177.

[20] Lê Quý Đôn, Phủ Biên tạp lục, sđd, tr.189.

[21] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí, sđd, tr.230.

[22] Lê Quý Đôn, Vân Đài loại ngữ, sđd, tr.178.

[23] Bùi Huy Đáp, Cây lúa miền Bắc Việt Nam, sđd, tr.25.

[24] Lê Quý Đôn, Phủ Biên tạp lục, sđd, tr.190.

[25] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí, tập 2, sđd, tr.214.

[26] Trịnh Hoài Đức, Gia Định thành thông chí, sđd, tr.30.

[27] Mạ chiêm vì cấy vào cuối năm gặp rét, lâu bén rễ và dễ bị chết, vì vậy cần phải cấy sâu. Ngược lại, vào vụ mùa cấy vào hè, thời tiết khí hậu thuận tiện hơn, lúa dễ bén, cấy nông mau đẻ, lúa dễ phát triển nhanh. Ruộng cát, khi bừa xong, cát chưa kịp lắng, cấy ngay dễ cắm mạ hơn. Còn đất thịt phải chờ ngày cho đất hơi nhũn mới cấy.

[28] Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục, sđd, tr.168.

[29] Lê Quý Đôn, Vân Đài loại ngữ, sđd, tr.181.

[30] Về cách sử dụng phân ở trên thế giới, ngay từ thời cổ đại đã khá phổ biến về cách sử dụng phân theo hình thức này. Trong lịch sử của cư dân nông nghiệp Sumerơ có nhắc đến việc cày để cho cỏ lẫn với đất, lật úp cỏ xuống dưới lớp đất, trồng các loại cây đậu, thu hoạch rồi mới cấy lúa. Ở Ấn Độ, thế kỷ thứ V đã biết sử dụng đến cây Thái dương đại (tithomadiversifolia) có tác dụng như cây phân xanh họ đậu.

 Xem thêm: Sêmênốp, Nguồn gốc nông nghiệp, Nxb. Khoa học, Lêningrát, 1974, tr.175-180.

[31] Lê Quý Đôn, "Phẩm vật 151", Vân Đài loại ngữ, sđd, tr.181.

[32] Như trên, tr.170.

[33] Trịnh Hoài Đức, Gia Định thành thông chí, tr.29.