Thứ Năm, 1 tháng 11, 2012

CHẤT MÀU DA CAM – NHỮNG LỜI THÚ NHẬN VÀ XÁM HỐI CỦA NGƯỜI CHỈ HUY HẢI QUÂN MĨ TRONG CUỘC CHIẾN TRANH VIỆT NAM


CHẤT MÀU DA CAM – NHỮNG LỜI THÚ NHẬN VÀ XÁM HỐI CỦA
NGƯỜI CHỈ HUY HẢI QUÂN MĨ TRONG CUỘC CHIẾN TRANH VIỆT NAM

                 TS. Nguyễn Mạnh Hưởng
                                                                       Khoa Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

Cuộc chiến tranh xâm lược của Mĩ ở Việt Nam nếu chỉ tính từ năm 1960, khi có khoảng 600 cố vấn Mĩ tại miền Nam[1] đến lúc tên lính Mĩ cuối cùng rời khỏi nơi này (29/3/1973), kéo dài khoảng 13 năm hai tháng. Hoặc, tính từ lúc quân viễn chinh Mĩ đổ bộ xuống Đà Nẵng (tháng 3/1965) đến tháng 3/1973 thì thời gian kéo dài đúng 8 năm. Cho đến nay, đây là cuộc chiến tranh kéo dài nhất trong lịch sử hơn 200 năm tồn tại của Hoa Kỳ (từ khi nhân dân Bắc Mĩ giành được độc lập, thoát khỏi sự thống trị của thực dân Anh - 1776). Cuộc nội chiến của nước Mĩ chỉ diễn ra trong 4 năm (từ tháng 4/1861 đến tháng 5/1865); cuộc chiến tranh giữa Mĩ và Tây Ban Nha diễn ra trong vòng 1 năm (1898); trong chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 – 1918), Mĩ chỉ tham dự trong 1 năm 7 tháng (từ tháng 4/ 1917); trong chiến tranh thế giới thứ hai (1939 – 1945) là 3 năm; chiến tranh với Triều Tiên kéo dài 3 năm (1950 – 1953); các cuộc chiến tranh vùng Vịnh (1991), ở Côsôvô (1999) và chiến tranh ở Irắc (2003) cũng diễn ra trong một thời gian ngắn và ít “hao người, tốn của” như cuộc chiến tranh mà Mĩ đã từng tham gia ở Việt Nam. Thực ra, cuộc chiến tranh xâm lược của Mĩ ở Việt Nam phải được tính từ năm 1954 (không kể thời gian Mĩ can thiệp vào Đông Dương, 1950 – 1954) đến lúc miền Nam hoàn toàn giải phóng (30/ 4/ 1975).
            Quả thực, nếu ai từng theo dõi lịch sử nước Mĩ kể từ ngày 4/7/1776, ngày công bố Tuyên ngôn độc lập của Mĩ, đến ngày 7 tháng 3 năm 1965, ngày đế quốc Mĩ đưa quân ồ ạt vào, trực tiếp xâm lược miền Nam Việt Nam, chúng đã tiến hành hàng chục cuộc chiến tranh lớn, và khi kết thúc chiến tranh, Mĩ luôn luôn là người chiến thắng. Cho đến trước khi xảy ra “cuộc đụng đầu lịch sử”ở Việt Nam, vai trò “sen đầm quốc tế” và sức mạnh của Mĩ nói chung chưa bị sứt mẻ. Nhưng, kể từ khi đế quốc Mĩ lao vào cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam thì tình hình này hoàn toàn đảo ngược. Thất bại của Mĩ trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam nói riêng và ở Đông Dương nói chung đã đánh dấu bước ngoặt đi xuống của Mĩ. Từ chỗ là cường quốc số 1 thế giới về mọi mặt, Mĩ đã suy yếu nhiều về quân sự, chính trị, kinh tế, tài chính. Chính những người đứng đầu nước Mĩ đã phải thú nhận: trong 199 cuộc “xung đột quân sự” của Mĩ ở nước ngoài từ 1798 đến 1973, đây là cuộc xung đột đầu tiên mà Mĩ không dám nói rằng mình chiến thắng[2]. Mặc dù Mĩ đã tiêu tốn đến mức kỷ lục: chi phí trực tiếp 676 tỷ đôla (trong chiến tranh thế giới thứ hai là 341 tỷ, chiến tranh Triều Tiên là 54 tỷ), nếu tính cả chi phí gián tiếp thì lên tới 920 tỷ đôla[3]; huy động tới lúc cao nhất 68% bộ binh, 60% lính thủy đánh bộ, 32% lực lượng không quân chiến thuật, 50% lực lượng không quân chiến lược của toàn nước Mĩ[4]. Đặc biệt, Mĩ đã dội xuống hai miền đất nước ta 7.800.000 tấn bom đạn các loại, nhiều gấp ba lần số bom đạn mà Mĩ ném xuống châu Âu, châu Phi và Thái Bình Dương trong chiến tranh thế giới thứ hai (2.057.244 tấn)[5], ... nhưng cuối cùng Mĩ vẫn phải cuốn cờ về nước, mang theo hơn 58.000 sinh mệnh Mĩ (hiện được khắc trên những bức đá hoa cương bên cạnh đài tưởng niệm Lincôn ở Oasinhtơn) và hơn 300.000 người bị thương. Đây quả là con số thương vong kỷ lục mà nước Mĩ chưa từng chịu đựng trong lịch sử của mình. Quan trọng hơn nữa, “nước Mĩ đã bị mất mặt với nhiều quốc gia khi rút lui lực lượng của mình khỏi Việt Nam”[6].
Hiện nay, việc giải đáp về những câu hỏi lớn xoay quanh sự thất bại của Mĩ ở Việt Nam đã có hàng trăm cuốn sách dưới các chủ đề khác nhau. Tiêu biểu là “Where the Domino Fell. America and Viet Nam (1945 – 1995)” (Nơi học thuyết Đôminô sụp đổ. Nước Mĩ và Việt Nam từ 1945 đến 1995) đã rút ra kết luận: Việt Nam là nơi mà học thuyết Đôminô của Mĩ bị sụp đổ và nguyên nhân sự thất bại không tránh khỏi là do Mĩ đã phạm “một sai lầm ngớ ngẩn, ghê ghớm, con đẻ của một hỗn tạp kỳ quặc giữa sự hoang đường và tính kiêu ngạo,… mù quáng đối với lịch sử, tin tưởng ngây thơ vào vai trò quyền lực đứng đầu trên trái đất. Đây là một cuộc chiến tranh sai lầm ở một nơi sai lầm, tại một thời điểm sai lầm vì những lý lẽ sai lầm”[7].
Cuộc chiến tranh xâm lược của Mĩ ở Việt Nam đã đi qua 37 năm, nhưng với người Mĩ, nhất là những người từng tham gia cuộc chiến tranh thì kí ức đau thương của họ không bao giờ hết. Nhiều người vẫn luôn day dứt về những tội ác của mình đã gây ra ở Việt Nam, họ đã viết lên nhiều cuốn hồi ký với hi vọng giải thoát phần nào sự ám ảnh của quá khứ tủi nhục. Trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi xin dẫn ra những lời thú nhận và xám hối của Đô đốc Zum – oát (theo cuốn “Cha con tôi”), người chỉ huy hải quân Mĩ trong chiến tranh Việt Nam, nhằm cung cấp thêm cho chúng ta một nguồn tư liệu quan trọng từ phía Mĩ nói về chất độc màu da cam mà Mĩ gây ra ở Việt Nam.
Đô đốc Zum – oát, người chỉ huy hải quân Mĩ ở Nam Việt Nam, một trong những người đã ra lệnh rải chất độc da cam dọc các dòng sông để bảo vệ con trai mình và binh lính dưới quyền. Nhưng, hiện nay ông đã phải thú nhận thất bại, nhận trách nhiệm và hậu quả phải trả giá do mình gây nên. Zum – oát dằn vặt: Việc làm này không những gây đau khổ cho biết bao gia đình Việt Nam, mà nó còn làm cho 3 thế hệ dòng họ nhà Zum – oát phải trả giá đặc biệt nặng nề, con trai là En-mô mắc hai bệnh ung thư đã chết năm 1988, cháu nội Ru-xen không có khả năng học hành và cháu gái thì bị dị tật bẩm sinh[8],…
1.      Chiến dịch Ranch Hand thất bại và những bi kịch đối với đồng đội.
Theo lời của Zum – oát, vào đầu những năm 60 ông ta làm phụ tá cho Pôn-nít-dơ và đã được phong làm chuẩn đô đốc 2 sao (tháng 7/1965). Từ lâu, ông ta thấy mình đã bị lôi cuốn sâu vào cuộc chiến tranh này, mặc dù cùng với Pôn-nít-dơ nhận thấy đây là cuộc chiến tranh sai lầm. Vào thời điểm này, số thương vong của hải quân tăng lên đáng kể và nước Mĩ ngày sàng dính líu sâu hơn vào cuộc chiến tranh. Số tử vong của các đội tuần tra sông lên đến tỉ lệ cao không thể chấp nhận được là 6% một tháng, có nghĩa cứ một người lính phục vụ một năm tuần tra sông thì có tới 60 – 75% khả năng bị giết hoặc bị thương. Tháng 9/1968, mệnh lệnh cấp trên buộc ông phải có mặt tại Việt Nam để làm chỉ huy trưởng lực lượng hải quân nội địa ở miền Nam, và với lần chỉ huy mới này ông đã được thêm 1 sao (trở thành đô đốc 3 sao).
Sau khi nhậm chức, Zum – oát nghĩ ra một biện pháp có thể cứu sinh mạng lính Mĩ là loại bỏ càng nhiều càng tốt các rừng rậm, phá hủy các tán lá dọc theo bờ sông để đẩy kẻ thù ra xa hơn và gây khó khăn cho họ trong việc phục kích các tàu tuần tra của quân Mĩ. Ông ta cho biết, chất màu da cam đã được sử dụng để làm rụng lá các loại cây, vì vậy phải ra lệnh tăng cường sử dụng chất da cam này. Lực lượng không quân sẽ chịu trách nhiệm rải chất da cam và gọi chiến dịch khai hoang đó là “chiến dịch Ranch Hand”. Sau đó, 24 chiếc C – 130 mỗi tuần rải xuống hàng nghìn ga-lông chất làm rụng lá cây ở các khu rừng rậm Việt Nam.
Theo Zum – oát, khi ông ta đến Việt Nam khoảng 4 – 5 tháng thì nhận được tin con trai của mình là En-mô Zum – oát III tình nguyện sang Việt Nam với cương vị chỉ huy tàu Chim én. En-mô cũng đề xuất nhiều ý kiến để cải tiến công việc rải chất da cam, ngăn chặn sự chi viện vũ khí, lương thực, thuốc men và các đợt phục kích của kẻ thù dọc các con sông và cánh rừng. Mặc dù vậy, “chúng tôi không ngăn chặn được tận gốc việc chở lậu vũ khí trên sông”, cũng “không thể ngăn chặn những con tàu đang đi trên vùng biển quốc tế, . . . Họ còn chở ngày càng nhiều vũ khí vào nam Việt Nam bằng đường bộ, nhiều khi gùi cả trên lưng,…”[9]. Ngày 1 -7 – 1970, Zum – oát trở thành Tư lệnh Hải quân, đến mùa xuân năm 1975, cùng với nước Mĩ ông ta phải chịu thất bại và thú nhận: “Sự thất bại của chúng ta ở Việt Nam, làm cho tôi tràn ngập niềm đau xót, mất mát khủng khiếp cho những nhười đã chết và bị thương cả về thể xác lẫn tâm hồn, … vì ta đã thua trong cuộc chiến tranh”. Những đồng đội của ông ta cũng bị đau đớn rằn vặt, nhiều người bị các chứng bệnh lạ không thể hiểu nổi như mất trí nhớ, bị phù chân tay, ho khan, đau đầu, rụng tóc, … Một số không chịu được đều tìm đến cái chết để kết liễu cuộc đời mình.
2.      Những bi kịch đối với gia đình.
Mặc dù chiến tranh đã lùi xa, nhưng nỗi đau dằn vặt của Zum – oát và En-mô (con trai ông ta) trong cuốn “Cha con tôi”, thì không thể dấu nổi. Ông ta thú nhận: “những điều xảy ra đối với con trai, rồi cháu nội đầu tiên Ru-xen như là kết quả của cuộc chiến tranh, nó làm cho nỗi đau của tôi càng thêm bội phần”.
            En-mô lúc chưa lìa cõi đời thì kể lại sự thật qua cuốn sách: Khi Ru-xen lên 4 tuổi, thật đau lòng là rõ ràng cháu không phát triển bình thường như những đứa trẻ lên 4 khác. Nguyên nhân tại sao thì cũng không rõ. Nhưng, qua báo chí và truyền hình, En-mô và Ka-ty (vợ En-mô) cũng hiểu được rằng con của các cựu chiến binh từ Việt Nam trở về đều bị nhiều khuyết tật bẩm sinh nghiêm trọng, mà người ta nghi ngờ do chất da cam gây nên. Trong khi đó, En-mô không nén nổi những trận ho khan mà mình đã bị mắc phải ít lâu, và khi đi khám bác sĩ thì biết đã mắc phải bệnh ung thư. Cả gia đình Zum – oát đều vô cùng đau khổ khi biết En-mô mắc căn bệnh hiểm nghèo, En-mô thì cho rằng chất da cam có thể đã liên quan đến bệnh ung thư của mình. Ý nghĩ ấy ngày càng ám ảnh anh ta, đặc biệt còn thể hiện rõ qua sự chậm phát triển trí tuệ của Ru-xen.
                                      
Thông qua tìm hiểu kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học Mĩ về chất độc hóa học, cả Zum – oát và En-mô biết được rằng, khả năng hủy diệt của DTT đối với côn trùng thế nào thì chất da cam đối với trái cây như vậy. Da cam là hợp chất 50 – 50 của hai loại chất diệt cỏ 2.4 – 5 và 2.4.5 – D. Còn hợp chất thứ ba, đi-ô-xin là chất hóa học có độc tính cao nhất, đã được tìm thấy như một tạp chất trong chất da cam và nó được phát sinh trong quá trình sản xuất da cam. Cả Zum – oát và En-mô đều biết rằng có 11 công ty hóa học ở Mĩ đã tham gia quá trình sản xuất các chất diệt lá cây này. Hai người đã đến Lầu năm góc xem một bản đồ các vùng bị rải nặng nề nhất ở Việt Nam. Khoảng 10 – 15% diện tích của Việt Nam bị rải chất da cam, và hai người đã sống ở hai nơi trong số đó (Đà Nẵng và căn cứ nổi giữa sông Cửa Lớn – bán đảo Cà Mau)[10]. Zum – oát cho biết, dựa trên những gì mà mình đã đọc và những cuộc trao đổi với mọi người, thì chất da cam chính là nguyên nhân gây nên ung thư, bệnh dị tật bẩm sinh đối với con trai và đứa cháu của mình. Bởi vì, rất nhiều trường hợp của cựu chiến binh tham chiến ở Việt Nam đã chứng minh rõ ràng điều đó. Đây chính là lý do khiến ông ta vô cùng day dứt về những quyết định khi cho rải chất màu da cam ở Việt Nam.
Nhưng có lẽ, cái đau đớn nhất đối với gia đình Zum – oát chính là người con trai En-mô của ông. Vào tháng 8 – 1985, khi vừa kết thúc 6 tháng điều trị hóa chất, anh ta cảm thấy vô cùng mệt mỏi, dường như lúc nào mình cũng đang phải kéo một vật nặng 22 kg, cảm thấy căng thẳng và hoàn toàn không có khả năng miễn dịch với các loại vi khuẩn. Khi phát hiện đã bị bệnh, En-mô đã được bác sĩ cho cấy ghép tủy xương nhân tạo (phải lấy của em gái), nhưng không thuần tủy xương mà phải cho cả máu và hồng cầu nuôi sống suốt quá trình, phải nằm trong phòng kính kín mít. Tuy nhiên, khoa học hiện đại của nước Mĩ cũng không đủ để cứu sống anh ta và En-mô đã chết năm 1988. Cho đến nay, ở nước Mĩ đã có nhiều cựu chiến binh bị chết giống như cái chết của En-mô có liên quan đến chất màu da cam. Chính bác sĩ Bơn (người thường xuyên theo dõi bệnh án của En-mô) tiết lộ, nhiều cựu chiến binh Việt Nam đã tới viện ung thư quốc gia với căn bệnh lym-phô-ma như thế.
*                *
*
            Rõ ràng, cho dù chiến tranh đã đi qua, nhưng “Hội chứng Việt Nam” còn kéo dài, đúng như người cha của En-mô, Zum – oát từng thú nhận: “Những gì đã xảy ra với Ru-xen và En-mô đã làm sâu đậm thêm cảm xúc của cá nhân tôi về sự phù phiếm của cuộc chiến tranh Việt Nam và điều này đã là bài học đau đớn nhất cho tôi … Đó là điều đầu tiên tôi nghĩ đến khi tôi thức dậy mỗi buổi sáng, và điều cuối cùng tôi nhớ đến mỗi buổi tối khi tôi đi ngủ”[11]. Hiện nay, nếu chỉ tính sơ sơ thì ở nước ta cũng có hơn 1 triệu người bị nhiễm chất độc da cam. Những di chứng và tác hại lâu dài của nó không chỉ gây ra đau thương cho những người tực tiếp tham gia chiến trường, mà cả thế hệ sau này. Chúng ta cần nhận thấy rõ điều này và phải lên tiếng tố cáo, yêu cầu chính phủ Mĩ cùng góp sức tìm cách khắc phục. Đây không chỉ là vấn đề nhân đạo, mà còn là trách nhiệm giải quyết hậu quả của cuộc chiến tranh nói chung, chất màu da cam nói riêng./.



Chú thích:
[1] Herbert J. Bass, George. H Billas, Emma Jones Lapsansky – America and Amaricans. Volume II, for high school. The Ecker Institude, New Jenef, 1983, page454.
[2] Viện lịch sử quân sự Việt Nam – Trận quyết chiến lịch sử xuân 1975. Hà Nội, 1970, tr 417.
[3] Đinh Xuân Lâm (Chủ biên) – Lịch sử 12 (In lần thứ 6). Nhà xuất bản Giáo dục, 1998, tr 177.
[4] Viện lịch sử quân sự Việt Nam – Trận quyết chiến lịch sử xuân 1975. Sđd, tr 412.
[5] Nguyễn Trường Đăng - Việt Nam: Góc nhìn từ phía Mĩ. Sự kiện và nhân chứng, số 65, 1999.
[6] Philip Sauvain - The morden world 1914 - 1980. Stanley Thornes Publisher Ltd, 1997, page 333.
[7] James, S. Olson, Randy Robert  - Where the Domino fell. America and Viet Nam 1945 – 1995. New York, St Martin’ Press, 1996, page 286.
[8], [9], [10], [11] Chiến tranh nhìn từ phía bên kia: Qúa khứ đau thương khép lại – chất độc da cam chưa. Báo Sự kiện và nhân chứng, số 58, 1998, tr 30 – 31.

Hội nghị Paris về Việt Nam: Mấy điều suy ngẫm

Hội nghị Paris về Việt Nam: Mấy điều suy ngẫm
Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Duy Trinh ký Định ước của Hội nghị quốc tế về Việt Nam tại Paris, ngày 2/3/1973.Thời gian qua đã có nhiều người viết về Hội nghị Paris (1968-1973). Bản thân tôi (ghi biên bản và phiên dịch) được tiếp xúc với từng câu chữ của Hiệp định và làm liên lạc giữa hai bên trong thời gian Hội nghị và những năm sau đó, nên cũng muốn ghi lại những “góc cạnh" của cuộc chiến đấu hầu như không cân sức, nhưng đã kết thúc “rất có hậu".

Vì Độc lập, Tự do
Mỗi dân tộc tùy hoàn cảnh của mình đều trải qua đấu tranh giành độc lập tự do. Do xu thế chính trị quốc tế thuận lợi, năm 1960, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc (LHQ) thông qua Nghị quyết 1514 trao trả độc lập cho 23 nước châu Phi. Đến nay đã có 193 nước tham gia LHQ.
Dân tộc Việt Nam đã đấu tranh rất sớm cho quyền lợi đó với cuộc Khởi nghĩa của Hai Bà Trưng (32), chiến thắng của Lý Thường Kiệt với tuyên ngôn Nam quốc sơn hà Nam đế cư (1077), rồi năm 1945, Việt Nam đã là nước đầu tiên phá xiềng xích của chủ nghĩa thực dân, thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với mục tiêu Độc lập, Tự do, Hạnh phúc.
Nhưng do hoàn cảnh địa-chính trị, Việt Nam lại phải tiếp tục chiến đấu chống lại các thế lực thực dân đế quốc để giành quyền dân tộc cơ bản. Khát vọng Độc lập, Tự do trở thành sức mạnh vô địch. Nhân dân Việt Nam đã chiến thắng tại Điên Biên Phủ gây hiệu ứng dây chuyền góp phần làm sụp đổ chủ nghĩa thực dân Pháp và các thế lực thực dân khác.
Cuộc chiến tranh lạnh và Học thuyết Domino đã dẫn tới việc Mỹ can thiệp, tiến hành chiến tranh xâm lược và chia cắt đất nước Việt Nam. Trong những năm tháng quyết liệt nhất của chiến tranh, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu cao khẩu hiệu "Không có gì quý hơn Độc lập, Tự do" động viên toàn dân, toàn quân chiến đấu chống xâm lược, giành độc lập, thống nhất Tổ quốc.
Sau Tổng tiến công và nổi dậy 1968, Mỹ phải chấp nhận đàm phán để chấm dứt chiến tranh. Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra phương châm chiến lược: "Vì Độc lập, vì Tự do, đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào". Độc lập, Tự do là quyền mặc nhiên của mọi dân tộc (Tiệt nhiên định phận tại thiên thư - Lý Thường Kiệt). Quyền cơ bản đó ngày càng được cộng đồng quốc tế công nhận ủng hộ, nên đã trở thành sức mạnh của thời đại. Mục tiêu của Việt Nam là Độc lập, Tự do, Mỹ rút, Ngụy nhào vừa là cơ bản, vừa là giải pháp thỏa đáng, nên có sức mạnh vô địch, dồn đối phương vào thế cô lập, suy yếu và chấp nhận thực tế. Phương châm chiến lược sáng suốt đó đã chỉ đạo nhân dân ta giành được thắng lợi cả trên chiến trường và trên bàn hội nghị.
Cuộc đàm phán lịch sử
Trong không khí chiến tranh lạnh và ráo riết chạy đua vũ trang giữa hai phe, nhiều người cho rằng đấu tranh vũ trang dễ trở thành "ngọn lửa nhỏ thiêu cháy cả cánh đồng" gây trở ngại cho xu thế hòa hoãn. Nhưng Việt Nam nắm vững vận mệnh của mình, không chấp nhận sự thỏa hiệp chia cắt đất nước, đã quyết tâm "xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước". Trong khi cả thế giới lo ngại rằng bộ máy chiến tranh khổng lồ của Mỹ sẽ đè bẹp lực lượng quân sự nhỏ bé của Việt Nam, nhưng qua những thử thách ác liệt, nhân dân Việt Nam đã chứng tỏ quyết tâm và sức mạnh của mình. Siêu cường Mỹ đã phải "tâm phục, khẩu phục".
Sau ký kết Hiệp định Paris, thăm Việt Nam, và gặp lại ở Paris tháng 6/1973, ông Kissinger nhắc lại ấn tượng sâu sắc đã "chào thua" khi Thủ tướng Phạm Văn Đồng nói: "Chúng tôi có nhiều người sẵn sàng chết vì Việt Nam hơn là Mỹ". Và đoàn Mỹ khi thăm Bảo tàng Lịch sử ở Hà Nội đã tự liên hệ bài thơ Nam quốc sơn hà Nam Đế cư của Lý Thường Kiệt chính là Điều 1 của Hiệp định Paris: "Hoa Kỳ và các nước khác tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam".
Song song với các hoạt động trên chiến trường, cuộc đàm phán ở Paris cũng trải qua những thử thách quyết liệt. Mỹ đã sử dụng bộ máy khổng lồ với những nhà ngoại giao nhà nghề như Harriman, Kissinger… kết hợp với các chiến dịch quân sự, các đợt leo thang ném bom miền Bắc, cải thiện quan hệ với Liên Xô, Trung Quốc (TQ) để gây sức ép với Việt Nam trên bàn đàm phán. Phía Việt Nam kiên định với lập trường bất biến: Vì Độc lập-Tự do, trên chiến trường cũng như trong Hội nghị, "Thế" của Việt Nam kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại đã tạo ra "Lực" mới, lần lượt làm thất bại các âm mưu thủ đoạn của đối phương.
Trên diễn đàn công khai, các Bộ trưởng Xuân Thủy và Nguyễn Thị Bình với tác phong ngoại giao lịch lãm và kiên định, đề cao lập trường chính nghĩa và giải pháp hợp tình hợp lý, tranh thủ dư luận thế giới, nhất là phong trào phản chiến bùng nổ trong lòng nước Mỹ, đẩy chính quyền Mỹ vào thế cô lập và phải xuống thang lùi từng bước.
Trong đàm phán trực tiếp, Cố vấn Lê Đức Thọ nắm thế chủ động, đấu tranh quyết liệt, đúng tác phong "Sáu Búa" như biệt danh của ông. Ông Kissinger cũng rất "ngán", có lúc đã dọa "sẽ đàm phán với người khác". Sau một lần thất bại, không thuyết phục được ông Thọ "ký non" vào bản thỏa thuận sơ bộ, ông Kissinger đã phải thừa nhận với ông Thọ: "Ông quả thật là đối thủ đáng nể".
Lập trường chính nghĩa, tinh thần yêu nước của Việt Nam, đã làm đối phương phải lùi bước. Sau những trận bom B52 ác liệt, ông Kissinger đã phải tự trở lại bàn đàm phán, bị phê phán gay gắt và chấp nhận ký kết Hiệp định Paris.
Lợi ích dân tộc
Trong quan hệ quốc tế, các nước trước tiên đều lo cho lợi ích dân tộc mình (và thực tế là đất nước có giàu mạnh mới hợp tác giúp đỡ được các nước khác). Các nước lớn với chủ nghĩa dân tộc cực đoan, gây chiến tranh Thế giới I và II, ráo riết chạy đua vũ trang đến mức cùng thừa nhận không thể thắng nhau bằng chiến tranh hạt nhân vì sẽ cùng bị hủy diệt, nhưng vẫn tiếp tục cạnh tranh nhau, thỏa hiệp và hy sinh lợi ích các nước nhỏ.
Hiệp định Geneve năm 1954 với sự tham gia của các nước lớn đã chia cắt Triều Tiên và Việt Nam. Riêng về Việt Nam, Hiệp định có quy định sau 2 năm sẽ Tổng tuyển cử để thống nhất đất nước. Nhưng phía Chính quyền Sài Gòn và Mỹ thấy rõ Chính phủ Hồ Chí Minh sẽ thắng trong tuyển cử, nên đã từ chối hiệp thương tổ chức tuyển cử, biến vĩ tuyến 17 thành biên giới của "Thế giới tự do chống chủ nghĩa Cộng sản".
Trên chiến trường, Mỹ lôi kéo quân đồng minh tham chiến bên cạnh quân Ngụy Sài Gòn để hình thành mặt trận chống Cộng. Trên bàn Hội nghị, tuy đã chấp nhận Mặt trận Giải phóng miền Nam tham gia hội nghị, họ vẫn giữ lập trường hai phe dẫn tới thương lượng kéo dài về hình dáng chiếc bàn họp sẽ là hình vuông (cho 4 bên) hay chữ nhật (cho hai bên). Giải pháp cuối cùng là bàn tròn. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận dân tộc giải phóng mỗi đoàn ngồi ¼ bàn. Đoàn Mỹ và Sài Gòn ngồi dính vào nhau ở phần nửa bàn còn lại.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ đạo sách lược mềm dẻo quan hệ giữa hai đoàn miền Bắc và miền Nam "tuy một mà hai, tuy hai mà một" cùng đấu tranh cho độc lập, tự do, nên ngày càng được sự đồng tình ủng hộ của dư luận và nhân dân toàn thế giới.
Phát huy đường lối ngoại giao Hồ Chí Minh, Việt Nam kiên trì đấu tranh, nhưng đồng thời cũng tránh "tiền lệ" của chiến tranh lạnh, tự lực chiến đấu và tự lực đàm phán đồng thời coi trọng và tranh thủ sự giúp đỡ về vật chất và tinh thần của các nước và phong trào hòa bình tiến bộ trên toàn thế giới. Mục tiêu "độc lập, tự do" của Việt Nam được thể hiện rõ trên chiến trường cũng như trong đàm phán và do vậy cũng chấp nhận được đối với Mỹ, nước luôn tự hào với Tuyên ngôn Độc lập và Tượng thần Tự do và trước thực tiễn trên thế giới hàng trăm nước đã được độc lập và tham gia LHQ.
Trong khi nhân dân Mỹ đòi chấm dứt chiến tranh, Quốc hội Mỹ cắt giảm ngân sách quân sự, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã tuyên bố "sẵn sàng trải thảm đỏ để Mỹ rút quân", lợi ích của Mỹ là ký kết hiệp định để rút quân, các chính quyền Sài Gòn kế tiếp nhau đều mất lòng dân không phải là lợi ích để Mỹ theo đuổi mãi mãi.
Qua ác liệt trên chiến trường cũng như quyết liệt trong đàm phán, phía Mỹ thấy rõ phía Việt Nam sẵn sàng hy sinh phấn đấu đến cùng cho lợi ích dân tộc, độc lập, tự do, nên từ chính khách, binh sĩ đến các nhà ngoại giao Mỹ cũng dần chuyển biến thái độ phục thiện.
Trên bàn hội nghị, thực hiện ngoại giao Hồ Chí Minh, các nhà đàm phán Việt Nam kiên định lập trường cơ bản (cũng là đòi hỏi tối thiểu của mọi dân tộc) đồng thời cũng thể hiện văn hóa ngoại giao, từng bước cảm hóa và có những quan hệ cá nhân tốt đẹp có lợi cho đất nước những năm sau đó.
Phó đoàn đầu tiên của Mỹ Cyrus Vance, sau này khi là Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ đã mời Phó đoàn Hà Văn Lâu, Đại sứ Việt Nam tại Liên Hợp Quốc, đến nhà riêng tại New York gặp gỡ và mong muốn thúc đẩy cải thiện quan hệ hai nước.
Đại sứ William Sulivan, chuyên gia chủ chốt trong đàm phán với Việt Nam đánh giá cao đối thủ Nguyễn Cơ Thạch và ngay sau Hội nghị Paris đã tích cực liên lạc và gặp lại Bộ trưởng Nguyễn Cơ Thạch trong nỗ lực phát triển quan hệ kinh tế và bình thường hóa quan hệ hai nước.
Bản thân tôi làm nhiệm vụ liên lạc và phiên dịch, nhưng cũng có được quan hệ tốt với cố vấn pháp lý George Aldrich, người được Cố vấn Lê Đức Thọ đánh giá cao trong việc soạn thảo văn kiện. Năm 1974, ông làm Trưởng đoàn Mỹ tại Hội nghị ở Geneve, đã chủ động tỏ thiện cảm nói chuyện với tôi và sau đó đã đến chào Trưởng đoàn Nguyễn Cơ Thạch trước sự ngạc nhiên của đoàn Sài Gòn.
Năm 1990, trong lần cuối cùng dự Đại hội đồng LHQ, Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch đã tận dụng cơ hội, nỗ lực hoạt động phá thế bao vây cấm vận, bình thường hóa quan hệ với Mỹ và các nước khác, được phía Mỹ chủ động mời đến thăm Thủ đô Washington DC, gặp gỡ rộng rãi các nhân vật chủ chốt của Quốc hội Mỹ.
Một nhân vật mà bản thân tôi dự đoán khó khăn là cựu phi công tù binh, Thượng nghị sĩ Đảng Cộng hòa John McCain. Nhưng bất ngờ ông đã ra tận hành lang đón đoàn Việt Nam vào Văn phòng riêng. Trên bàn cố tình đặt chiếc gạt tàn có đề chữ Hà Nội và ông còn chỉ vào bức hình chụp ở Hồ Tây cảnh ông đang giơ tay hàng, thản nhiên nói "It's me" (Tôi đấy). Tôi cảm nhận ngay, đối với ông chiến tranh và hận thù đã vĩnh viễn đi qua. Thực tế, sau đó ông đã nổi tiếng trong việc tích cực thúc đẩy quan hệ Mỹ-Việt Nam.
Cuộc chiến có hậu
Trong lịch sử tồn tại và phát triển của mình, dân tộc Việt Nam luôn phải đối đầu với các thế lực ngoại bang "siêu mạnh", nhưng đều kết thúc thắng lợi vẻ vang.
Sau gần một thế kỷ đô hộ và chiến tranh xâm lược Việt Nam, thực dân Pháp đã thất bại. Chính phủ Hồ Chí Minh với những thành viên từng bị Pháp kết án tử hình hoặc tù chung thân, đã sẵn sàng bỏ qua quá khứ, phát triển quan hệ hữu nghị với Pháp. Điều đó dẫn tới sự kiện lịch sử, Tổng thống Pháp Francois Mitterand đã đến thăm chiến trường Điện Biên Phủ, xoá bỏ quá khứ đen tối giữa hai dân tộc.
Siêu cường Mỹ làm mưa làm gió khắp thế giới, chưa hề biết thua trận, trừ trường hợp ở Việt Nam, nhưng chính những người có lý do cá nhân để hận thù Việt Nam lại hăng hái phát triển quan hệ hữu nghị với Việt Nam như cựu tù binh John McCain, Đại sứ đầu tiên của Mỹ ở Hà Nội Pete Peterson. Cũng chính vì lợi ích nước Mỹ, phong trào Mỹ chống chiến tranh Việt Nam đã phát triển chưa từng có trong lịch sử với những tên tuổi mãi mãi được ghi nhớ, khởi đầu là Martin Luther King. Cũng không có cuộc chiến nào mà cựu binh Mỹ lại trân trọng những kỷ niệm sâu sắc với chiến sĩ phía bên kia như với Đặng Thùy Trâm, các liệt sĩ và chiến sĩ Việt Nam khác.
Trong lịch sử 4.000 năm của Việt Nam, các triều đại TQ luôn xâm lược và coi Việt Nam là thuộc quốc. Sau mỗi lần đánh đuổi quân xâm lược, dân tộc Việt Nam tiếp tục truyền thống hiếu hòa chủ động nối lại quan hệ với láng giềng Phương Bắc. Lịch sử và truyền thống đó đã thu phục lòng người. Nhiều lãnh đạo và nhân dân TQ đã nhận thức rõ. Tôi đã chứng kiến, năm 1980, một nữ cán bộ ngoại giao TQ, trong lúc quan hệ hai nước căng thẳng, trên diễn đàn ĐHĐ/LHQ đã tự hào dẫn chứng thái độ đúng mực của Thủ tướng Chu Ân Lai đến thắp hương tại Đền thờ Hai Bà Trưng ở Hà Nội. Một ví dụ khác, năm 1960, trong chuyến tàu lữ hành của đoàn ngoại giao từ Bắc Kinh xuôi về Nam Ninh, các nữ cán bộ ngoại giao TQ đang vui chuyện với tôi chợt nhắc tới danh tướng Mã Viện, họ bỗng ngưng bặt nhìn nhau vì nhớ tới việc Mã Viện đem quân xâm lược và giết hại 2 nữ anh hùng của Việt Nam.
Dân tộc Việt Nam có truyền thống yêu nước chống xâm lược đặc biệt là với các nước lớn, nhưng cũng lại mau chóng phát triển quan hệ sau chiến tranh. Đặc điểm lịch sử đó tạo cho Việt Nam vị thế thuận lợi trong quan hệ quốc tế, phát triển hợp tác hữu nghị, nhất là trong tình hình toàn cầu hóa, "hai bên cùng được lợi" (win-win). Đó cũng là xu thế không thể đảo ngược trong quan hệ quốc tế hiện nay và sau này.
Từ những suy ngẫm trên, tôi tin rằng trong quan hệ xã hội cũng như quan hệ quốc tế: Lẽ phải đã và sẽ tiếp tục thu phục lòng người.
Phạm Ngạc

Học thuyết Domino của Mỹ & Chiến tranh tại Việt Nam.

Học thuyết Domino của Mỹ & Chiến tranh tại Việt Nam.

http://i160.photobucket.com/albums/t168/susique333/Domino.gif


Thuyết domino, hay hiệu ứng domino, được đặt tên dựa vào một trò chơi nhiều phía mà trong đó các bên lần lượt hạ và mở quân bài domino của mình lắp ghép vào các quân đã hạ, ai hạ hết quân trước người đó sẽ thắng. Các bên cố gắng hạ mà không cho phép đối thủ hạ bài. Theo luật chơi như vậy sẽ có lúc nào đó một người chơi đến lượt mình bắt buộc phải hạ một quân bài domino mà các bên đối thủ sẽ có cơ hội hạ hết bài và thắng cuộc. Quân bài Domino đó có tính chất chìa khóa quyết định tất cả các quân bài khác.
Một cách hiểu khác về hiệu ứng domino là khi có một lực tác động lên một vật mà vật đó là một bộ phận trong một hệ thống thì sẽ đưa đến một tác động lên toàn bộ dây chuyền. Cách giải thích này dựa theo nguyên tắc của các quân cờ domino khi được xếp thẳng đứng liên tục với nhau, dưới tác động bên ngoài làm các quân cờ đổ lần lượt lên nhau.
Thuyết domino là một học thuyết chính trị – đối ngoại của chính phủ Hoa Kỳ trong cao trào của Chiến tranh Lạnh và Chủ nghĩa cộng sản để ngăn chặn sự phát triển của chủ nghĩa CS tại châu Á. Thuật ngữ "thuyết domino" (domino theory) lần đầu tiên xuất hiện dưới thời của Tổng thống Dwight D.Eisenhower để chỉ về nguy cơ phát triển của chủ nghĩa cộng sản tại Đông Dương mà trọng tâm là tại Miền Nam Việt Nam , theo đó: như Philippines, Malaysia, Nhật Bản, Úc, New Zealandnếu Hoa kỳ không can thiệp để phe cộng sản chiếm cứ Nam Việt Nam thì đó sẽ là quân bài domino chìa khóa làm cho Lào, Campuchia, Thái Lan, Miến Điện sụp đổ rơi vào tay cộng sản và sẽ tạo lợi thế lớn cho phong trào cộng sản tại châu Á đe dọa các khu vực sống còn còn lại của "Thế giới tự do"...
http://www.searchamateur.com/pictures/vietnam-war-lux-delux-1.jpg
Do đó, theo hệ quả của thuyết domino, Hoa Kỳ có nghĩa vụ phải giúp đỡ các đồng minh bản địa chặn đứng chủ nghĩa cộng sản tại Miền Nam Việt Nam và Đông Dương. Đó là tiền đề để giải thích cho sự can thiệp ngày càng sâu của Hoa Kỳ vào Chiến tranh Đông Dương và Chiến tranh Việt Nam và sau này dẫn đến sự tham chiến trực tiếp của Quân đội Hoa Kỳ tại chiến trường Đông Dương.
Sau này Tổng thống Hoa Kỳ Ronald Reagan cũng áp dụng thuyết domino này để giải thích cho các can thiệp của Hoa Kỳ giúp đỡ các lực lượng Contras chống lại phong trào của mặt trận Sandinista (thân cộng sản) tại Trung Mỹ

Một hình ảnh trong Chiến tranh Việt Nam.
http://www.resourcefinder.org/60%27s%20sources/vietnam%20war.jpg

TT Ronald Reagan
http://www.granitegrok.com/pix/Reagan.jpg

Bối cảnh xuất hiện của học thuyết domino

Thuyết domino xuất hiện là hệ quả tất nhiên của tình hình thế giới sau Thế chiến thứ 2 khi hai hệ tư tưởng cộng sản và tư bản đều rất bị kích động trong đấu tranh không khoan nhượng, không đội trời chung, ra sức chống phá nhau bằng mọi hình thức đấu tranh xuất khẩu cách mạng và phản cách mạng. Khi phe cộng sản đang trên đà tiến công rầm rộ: liền sau Thế chiến thứ hai là sự hình thành phe XHCN ở Đông Âu và thắng lợi của cộng sản tại Trung Quốc và ngay sau đó là sự phát động Chiến tranh Triều Tiên của cộng sản Bắc Triều Tiên với sự ủng hộ của Liên Xô và Trung Quốc.
Cuộc đấu tranh giữa phe cộng sản và phe chống cộng sản đã mang tính toàn cầu một mất một còn, thế giới phân hẳn ra hai trận tuyến với sự căm thù tư tưởng cao độ. Mặc dù chính sách đối ngoại tổng thể của Hoa Kỳ sau thế chiến là phi thực dân hóa nhưng tại Đông Dương tính chất cộng sản củ a Mặt trận Việt Minh giành độc lập cho Việt Nam làm cho Hoa Kỳ không thể ủng hộ phong trào này và điều này lại càng làm Việt Minh tìm kiếm sự ủng hộ của phe cộng sản và phong trào này càng cộng sản hoá sâu sắc hơn nữa. Về phía mình, Hoa Kỳ càng giúp đỡ cho Thực dân Pháp chiến thắng cộng sản Việt Minh. Với thắng lợi của Việt Minh trong Chiến tranh Đông Dương, Nam Việt Nam đã trở thành mũi nhọn đấu tranh của Hoa Kỳ trong chiến lược toàn cầu chống cộng sản mà thể hiện chính trị của nó là học thuyết domino.
Sau đó thuyết domino được chính quyền của Tổng thống John F.Kennedy phát triển với cam kết mạnh mẽ hơn nữa: "Hoa Kỳ sẽ gánh vác mọi gánh nặng, liên kết với mọi đồng minh, chống lại mọi kẻ thù để bảo vệ thế giới tự do của chúng ta" và can thiệp ngày càng sâu hơn vào cuộc chiến tại Việt Nam. Chính sách này tiếp đến được Tổng thống Lyndon B. Johnson đưa lên đỉnh cao bằng cách đưa quân viễn chinh Mỹ tham chiến, tiến hành chiến tranh cục bộ tại Việt Nam.
http://johnfenzel.typepad.com/john_fenzels_blog/images/napalm_1965_1.jpg

Đánh giá về thuyết domino

Sau Chiến tranh Việt Nam, nhất là sau khi Trung Quốc và Việt Nam từ bỏ các luận điểm cộng sản đối kháng, cải cách, đổi mới và bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ và thế giới tư bản chủ nghĩa, trong chính giới Hoa Kỳ có hai luồng đánh giá trái ngược nhau về thuyết domino:
Phía chỉ trích thuyết domino cho rằng:
  • Thuyết này đã làm Hoa Kỳ bị lôi kéo vào một cuộc chiến tranh lâu dài không trực tiếp liên quan đến các quyền lợi của Hoa Kỳ và kết quả thất bại của cuộc chiến tranh này đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín và sức mạnh của Hoa kỳ trên thế giới.
  • Sự đe dọa của phe cộng sản đối với châu Á theo thuyết domino đã bị phóng đại: thực tế sau Chiến tranh Việt Nam các chế độ cộng sản chỉ giới hạn tại Đông Dương và các chế độ này không thể có ảnh hưởng lớn lao nào đe dọa các chế độ TBCN tại Thái Lan, Miến Điện hay các vùng châu Á xa hơn nữa.
  • Thuyết này không đánh giá được các mâu thuẫn nội tại ngày càng lớn trong lòng phong trào cộng sản giữa Liên Xô – Trung Quốc, Trung Quốc – cộng sản Việt Nam, cộng sản Việt Nam – Khmer Đỏ. Với những mâu thuẫn này sự bành trướng của chủ nghĩa cộng sản tại châu Á là không nghiêm trọng.
  • Thuyết domino của chính phủ Hoa Kỳ không nhìn nhận thấy được phong trào Việt Minh có bản chất quyết định là phong trào giải phóng dân tộc, chống thuộc địa thực dân vì sự độc lập của Việt Nam, với sự lãnh đạo của đảng Cộng sản Việt Nam, một đảng được đại đa số nhân dân Việt Nam ủng hộ do sự lãnh đạo thành công của họ trong kháng chiến chống Pháp.
Mặt khác Những người ủng hộ thuyết domino thì cho rằng:
  • Thuyết domino hoàn toàn đáp ứng được hoàn cảnh thế giới trong thập niên 1950-1960; tình hình khi đó khác xa với những thay đổi của cộng sản Trung Quốc và Việt Nam vào thập niên 1970-1980 và những phản ứng mãnh liệt của Hoa Kỳ theo nguyên tắc của thuyết domino đã góp phần làm nên những thay đổi này.
  • Nguy cơ bành trướng của phe cộng sản theo hiệu ứng domino là có thật: sau thắng lợi của cộng sản tại Việt Nam năm 1975, phe cộng sản trên đà thắng thế với một loạt các thay đổi chính trị như tại Angola, Mozambique, Ethiopia của Châu Phi với sự xuất khẩu cách mạng một cách thẳng thừng của Cuba, Liên Xô can thiệp vào Afganishtan tại châu Á, phong trào thân cộng sản Sandinista tại Nicaragua, Grenada tại Châu Mỹ Latin...
  • Nhờ có phản ứng mạnh mẽ của Hoa Kỳ theo thuyết domino, cộng sản Việt Nam sau thắng lợi đã mất máu không thể xây dựng một tiềm lực mạnh mô hình cộng sản rộng ra tại Đông Nam Á. Đồng thời các quốc gia Đông Nam Á liền kề như Malaysia, Thái Lan, Singapore trong thời gian Chiến tranh Việt Nam đã cố kết lại phát triển kinh tế vượt lên làm mô hình cộng sản mất sức hấp dẫn.


http://www.bluefruit.com/images/samples/sample_domino_01_02.jpg


(Source: Tổng hợp từ Internet).

THUYẾT DOMINO TRONG CHIẾN TRANH VIỆT NAM


THUYẾT DOMINO TRONG CHIẾN TRANH VIỆT NAM

 Tác giả: Trọng Đạt

Sự hình thành.

Các tự điển bách khoa định nghĩa Domino là lý thuyết chỉ đạo chính sách ngoại giao Mỹ trong thời chiến tranh lạnh cho rằng một nước bị Cộng Sản chiếm các nước lân bang sẽ bị mất theo. Người đầu tiên dùng chính sách này là Tổng thống Truman từ năm 1947, các tổng thống kế tiếp Eisenhower, Kennedy, Johnson… cũng nhắc tới thuyết Domino để biện minh cho việc can thiệp của họ vào Đông Nam Á nhất là chiến tranh Việt Nam.
Trước Thế chiến thứ hai, cuối năm 1938 tại Hội nghị Munich Anh Pháp cho phép Hitler lấy Sudetenland của Tiếp Khắc, gần hai năm sau Hitler thôn tính Ba Lan, Đan mạch Na Uy, Lục Xâm Bảo, Hòa Lan, Bỉ, Pháp… Nhiều người cho Tây phương đã sai lầm hồi đó không ngăn chặn Hitler khi Đức chưa mạnh.
Sau thế chiến thứ hai Staline con người tàn bạo nổi bật lên, y cai quản nước Nga và Đông Âu, là con người nguy hiểm hơn Hitler vì uy quyền nhiều hơn, đế quốc rộng hơn. Năm 1949 Nga có bom nguyên tử, Trung Cộng chiếm được nước Tầu đã làm lệch hẳn cán cân giữa Thế giới tự do và khối CS. Người ta bắt đầu lo sợ hiểm họa CS, năm 1947 Dean Acheson Bộ trưởng ngoại giao của Truman khuyên Quốc hội trợ giúp Hy Lạp vì sợ CS chiếm và đã được Quốc hội nghe theo. Người ta ví như một quả táo thối có thể làm hư nguyên một thùng, mất Hy Lạp có thể đưa tới mất Iran và các nước Trung Đông và dần dần tới châu Phi qua Ai cập và Âu châu, Ý, Pháp, ở đây đảng CS đã hoạt động mạnh.
Thủ tướng Tây Đức Adenauer viết hồi ký về những năm 1945-1953, ông nói tôi đoan chắc Staline có quyết định chiếm Tây Đức với ít tàn phá nhất trong những năm hậu chiến. Chính sách của ông không đạt kết quả mong muốn nhưng tôi quả quyết ông ta không từ bỏ ý định. Nếu Staline thành công trong việc kiểm soát được Tây Đức với ít tàn phá nhất ông ta sẽ gây ảnh hưởng được tới Pháp, Ý trong khi hai nước này tình hình chính trị không vững và hai nơi này có đảng CS hoạt động. Nếu Sô Viết cai trị được Tây Đức, Pháp, Ý sẽ trở thành cường quốc mạnh nhất thế giới về kinh tế, quân sự, chính trị, có nghĩa là CS sẽ thắng cả thế giới trong đó có nước Mỹ. Chính sách của tôi là vạch rõ âm mưu của Sô viết, họ còn sợ Mỹ vì có bom nguyên tử. Năm 1949 Sô Viết đã làm được bom nguyên tử, họ chờ cho tới khi sản xuất được nhiều bom hơn khi nào võ khí nguyên tử hai bên cân bằng, trên thực tế cả hai đều không dám xử dụng vũ khí nguyên tử khi ấy lục quân và không quân sẽ là lực lượng quyết định.
Rồi thuyết này lan truyền sang Á châu khi cuối 1948 Mao thắng thế bên Tầu, Việt Minh nổi lên chống Pháp mới đầu gặp khó khăn nhưng tới 1950 nhờ viện trợ của Trung Cộng VM thắng thế bằng du kích chiến, Mã Lai cũng có du kích chiến nhưng nhỏ hơn. Năm 1948 CS cũng nổi lên ở Nam Dương, tháng 11-1948 Tống Mỹ Linh sang Mỹ xin viện trợ nói nếu mất Trung Hoa, Á Châu sẽ mất về tay CS, tháng 12-1948 chính phủ Tưởng Giới Thạch lại gửi văn thư cho Hoa Kỳ nói nếu Trung Hoa mất Á châu sẽ mất về tay CS rồi châu Âu cũng mất. Nhiều người cũng nghĩ như vậy nhưng cũng không thuyết phục được giới lãnh đạo Mỹ.
Người Pháp đầu tiên đã nghĩ ra thuyết này cho rằng mất Đông Dương hay một phần Đông Dương về tay CS thì sẽ mất nhiều hơn thế nữa. Tháng giêng năm 1949 Tổng thống Pháp Vincent Auriole có bàn về một đề nghị Pháp thương thuyết hòa bình với Hồ chí Minh. Ông từ chối đề nghị ấy và lý luận nếu thương thuyết với Hồ, tay sai của Mạc Tư Khoa sẽ đưa tới việc mất Đông Dương và cả Đông Nam Á nữa, rồi chẳng khác nào giao Âu châu cho CS. Tuy người Pháp muốn phổ biến lý thuyết này, về sau nó phát triển mạnh ở Hoa Kỳ là do người Mỹ nghĩ ra chứ không phải do ảnh hưởng của Pháp.
Thập niên 50, 60 thuyết địa lý chính trị cho Việt Nam là cái trục tại Đông Nam Á, nếu Nam Việt Nam bị mất về tay Cộng sản thì các nước tự do khác ở Đông Nam Á như Lào, Miên, Thái Lan… và ngay cả Đại Hàn, Đài Loan, Miến Điện, Ấn Độ cũng sẽ mất về tay Cộng Sản.
Người đầu tiên đề xuất là Tổng thống Eisenhower năm 1954, ông nói một nước có thể ảnh hưởng về chính trị đối với nước láng giềng. Ta có một hàng quân cờ domino, nếu đánh đổ quân thứ nhất thì sẽ nhanh chóng những quân khác sẽ bị đổ hết cho tới quân cuối, đó là sự khởi đầu của tan rã. Lý thuyết này được dùng để biện minh cho sự can thiệp của các chính phủ Mỹ thập niên 50, 60 vào Việt Nam cho rằng nếu mất VN thì sẽ mất các nước láng giềng.

Đến Kennedy và Johnson quả quyết hơn cho rằng Mỹ phải cương quyết với Nga, Tầu, kế hoạch tầm ăn dâu của họ đụng chạm tới quyền lợi của Mỹ. Johnson nói cuộc chiến tranh chống Cộng Sản của Mỹ tại Đông Nam Á phải quyết liệt để thắng lợi nếu không Mỹ sẽ mất Thái Bình Dương và sẽ phải lập phòng tuyến tại bờ biển. Nếu không ngăn chặn Cộng Sản tại các nước Phi Luật Tân, Nhật, Đài Loan… an ninh sẽ mất khiến cho Thái Bình Dương trở thành biến đỏ. Việt Nam Thái Lan là điểm nóng của Mỹ, chúng ta phải giúp họ hết mình nếu không sẽ mất hết để rồi phải rút về phòng thủ tại San Francisco.
Trong khoảng từ 1945 tới 1975 nhiều người nói phải ngăn chận Cộng Sản không phải vì sợ mất Việt Nam nhưng vì để ngăn chận CS bành trướng sang các nước khác. Tổng thống Eisenhower trong cuộc họp báo ngày mồng 7 tháng 4-1954 nói về Domino, ông cho biết trong ván bài domino nếu mất quân đầu thì sẽ mất nguyên một hàng cho tới quân cuối. Vài tháng trước cuộc họp báo của Eisenhower, Donald R. Heath đại sứ Mỹ tại Đông Dương nói nếu Pháp không giữ được Đông Dương chỉ có những kẻ mù mới không tin rằng CS sẽ nuốt chửng Đông nam Á
(Only the blind could doubt the immediate Communist engulfment of Southeast Asia – answer.com).
Năm 1969 khi Mỹ bắt đầu rút khỏi VN, Walt W. Rostow, cựu cố vấn an ninh của TT Johnson, một người quá khích đã nói.

“Không ai tại Á châu mà không hiểu rằng nếu ta rút khỏi VN là ta đã rút khỏi Á châu, khu vực sẽ sụp đổ”.
(”There’s nobody in Asia who doesn’t understand that if we pull out of Vietnam, we’d have to pull out of all of Asia, the place would fall.” – answer.com)

Sau 1975, VNCH sụp đổ nhưng Á châu vẫn tồn tại y nguyên vì Mỹ đã bắt tay được Trung Cộng và giải quyết được tận gốc của vấn đề, tận gốc thuyết Domino.
Trong những năm cuối của nhiệm kỳ Truman, Bộ ngoại giao và Bộ tham mưu liên quân nói mạnh dạn tháng 4-1950: Đông Dương mất có thể đưa tới mất lục địa Đông Nam Á và rồi Phi Luật Tân, Mã Lai, Nam Dương sẽ rơi vào tay CS. Eisenhower làm Tổng thống năm 1953 cử Foster Dulles làm Bộ trưởng ngoại giao, ngày 31-3-53 trong một buổi họp Hội đồng an ninh Quốc gia đưa ra những điểm quan trọng như các nước ngoại biên như Nhật, Đông Dương, Ấn độ, Hồi quốc, Iran, NATO… nếu một nước nào mất sẽ sẽ ảnh hưởng tới chỗ còn lại.
Diễn văn của Phó TT Nixon tháng 12 năm 1953 nói.

“Nếu Đông Dương mất, Thái Lan sẽ đặt trong tình trạng bế tắc. Mã Lai một nước nhiều thiếc, cao su và Nam Dương cũng sẽ như vậy. Nếu toàn bộ Đông Nam Á chịu ảnh hưởng CS hay rơi vào tay CS, nước Nhật sống vì thương mại buôn bán với các nước ấy, muốn tồn tại cũng phải nghiêng về phía CS”
(If Indochina falls, Thailand is put in an almost impossible position. The same is true of Malaya with its rubber and tin. The same is true of Indonesia. If this whole part of South East Asia goes under Communist domination or Communist influence, Japan, who trades and must trade with this area in order to exist must inevitably be oriented towards the Comumunist regime)
spartacus.school.net.co.uk.

Năm 1953 TT Eisenhower còn nói mạnh hơn về sự đe dọa như sau: Nếu Đông Dương mất bán đảo Mã Lai khó tồn tại, Ấn độ sẽ bị bao vây, Miến Điện sẽ không phòng thủ được. Ông nói ta cần phải ngưng ngay diễn biến của những biến cố này, nếu không ngăn chặn CS tại Đông Dương sau này ta sẽ phải trả giá đắt hơn. Đầu năm 1954 Pháp bắt đầu yếu thế tại Đông Dương, Đô Đốc Arthur RadFord Tổng Tham mưu trưởng ban tham mưu liên quân đề nghị nước Mỹ nên gửi quân tham chiến tại Đông Dương. Ông dùng thuyết Domino làm lý luận nói nếu CS kiểm soát đồng bằng Bắc Việt họ sẽ thắng tại Đông Dương sau đó sẽ chiếm được Đông Nam Á, có thể mất Nhật, ông nói Mỹ cần phải can thiệp bằng lực lượïng mạnh.
Hồi ấy dư luận báo chí ủng hộ thuyết Domino nhưng không ồn ào lắm. Ngày 6-4-1954 tại phiên họp Hội đồng an ninh quốc gia, Eisenhower tỏ ra lo sợ nói nếu mất Đông Dương có thể mất Đông Nam Á. Thập niên 1940 Mỹ không giúp Trung Hoa ngăn chận CS vì Trung Hoa là một nước quá lớn, Mỹ sẽ tốn nhiều tiền và nhân mạng hơn còn Đông Dương nhỏ họ sẽ tốn kém ít hơn nên Mỹ có khuynh hướng bảo vệ Đông Dương.
Pháp thua trận Điện Biên Phủ người ta có cảm tưởng quân cờ domino mất, khi ấy Eisenhower chưa thất vọng lắm, trả lời phỏng vấn ngày 12-5-1954 ông nói quân cờ domino mất chưa chắc đã sập nguyên hàng, trước đó ông Dulles nói các nước bị lâm nguy nếu liên kết với nhau thì không sợ sụp đổ như ván cờ domino. Người Mỹ thời ấy coi VN là một nước có tầm mức quan trọng trung bình (a country of moderate importance), họ cố gắng cầm chừng để giúp VN thoát khỏi sự xâm lấn của CS. Năm 1961 khi sắp bàn giao chức vụ cho Kennedy, Eisenhower nói với Kennedy nếu Lào mất về tay CS thì Nam VN, Miên, Thái Lan, Miến Điện… cũng sẽ mất, chỉ là vấn đề thời gian.

Thập niên 60.

Trong giai đoạn này Hoa Kỳ đã tiến sâu vào thuyết Domino, các chính khách cao cấp của Mỹ tin vào Domino hơn dưới thời Eisenhower năm 1953, 54 vì cường độ xâm lấn của CS tại Á châu ngày càng rõ rệt từ Cao Ly sang Việt Nam, trong đó một số người điển hình là McNamara sau này lại cho thuyết Domino là sai lầm. Thập niên 60 thuyết này được tin tưởng rất nhiều, người ta cho rằng nếu để mất Nam VN hay Lào vào tay CS thì Hoa Kỳ sẽ bị mất uy tín (credibility), các nước khác sẽ không tin vào sự giúp đở của Mỹ và sẽ đầu hàng CS khi bị xâm lược. Các nước CS sẽ không còn e sợ Mỹ và sẽ càng gây hấn hơn, tư tưởng này phổ biến trong những năm 60. Năm 1961 Bộ quốc phòng và Ngoại giao Mỹ trình TT Kennedy một báo cáo: Mất Nam VN, Đông Nam Á sẽ tiến gần lại CS hơn, Domino đã được nhấn mạnh nhiều hơn thời 1954. Năm 1961 Phó TT Johnson có nói với Kennedy:

“Cuộc chiến đấu chống CS tại Đông Nam Á phải dứt khoát và mạnh mẽ để mang kết quả tốt nếu không Mỹ sẽ dâng Thái Bình Dương cho CS và ta sẽ phải phòng thủ ngay tại bờ biển Hoa Kỳ…. VN Thái Lan là những nơi trực tiếp – và điểm quan trọng nhất – nó là những địa điểm nguy kịch và xáo động đối với Mỹ. Chúng ta phải quyết định giúp họ hết mình trong khả năng của chúng ta hay chấp nhận thất bại tại đó và rút về phòng thủ tại San Francisco”…
(”The battle against Communism must be joined in Southeast Asia with strength and determination to achieve success there—or the United States, inevitably, must surrender the Pacific and take up our defenses on our own shores…
…”Vietnam and Thailand are the immediate—and most important—trouble spots, critical to the U.S… We must decide whether to help these countries to the best of our ability or throw in the towel in the area and pull back our defenses to San Francisco – answer.com.)

Năm 1960 Kennedy đắc cử Tổng thống Hoa Kỳ tháng 11 năm 1960, trong diễn văn nhậm chức ông nói sẽ tiếp tục chính sách của TT Eisenhower ủng hộ chính phủ Ngô Đình Diệm của VNCH, ông nói nếu miền nam VN thành nước CS thì các nước không CS trên thế giới sẽ bị lâm nguy. Nếu nam VN mất thì các nước Lào, Miên, Miến Điện, Phi Luật Tân, Tân Tây Lan, Úc… sẽ bị mất theo. Nếu ta không ngăn chặn CS kịp thời ở VN nó sẽ lan rộng trên thế giới, ông cho rằng đây là thử thách lớn lao hơn hết cả mà ta cần phải đương đầu, an ninh của ta sẽ bị mất dần theo chiến lược tầm ăn dâu, ông nói ta cần phải sẵn sàng yểm trợ đồng minh để chống lại kẻ thù của ta bằng bất cứ giá nào dù nặng nề tới đâu để bảo đảm sự sống còn.

(”No other challenge is more deserving of our effort and energy… Our security may be lost piece by piece, country by country.” Under his leadership, America would be willing to: “pay any price, bear any burden, meet any hardship, support any friend, and oppose any foe to assure the survival and success)
Spartacus.school.net.co.uk

Năm 1964 lên làm Tổng thống, Johnson đặt ưu tiên chương trình xã hội trước quốc phòng, ông cũng lo ngại việc đưa lực lượng lớn của Mỹ vào cứu VNCH, một số viên chức nghiên cứu tình báo thuộc Hội đồng thẩm định quốc gia của CIA (CIA’s Board of National Estimates) cho biết thuyết này không đúng vững chắc. Nhưng đa số các các viên chức cao cấp như Bộ trưởng ngoại giao Dean Rusk, Bộ trưởng quốc phòng McNamara, Giám đốc sở Tình báo trung ương John McCone và Tham mưu trưởng liên quân đều nhìn nhận thuyết này đúng, Tham mưu trưởng là người quả quyết mạnh nhất. Khi trợ lý ngoại trưởng Viễn đông sự vụ nghi ngờ thuyết này hỏi Tham mưu trưởng có thể lập một phòng tuyến khác để thi hành Domino không, ông ta nói không có vị trí nào hơn tại Đông Nam Á. Cả hai viện quốc hội đều tin ở thuyết này.
Năm 1965 khi Nixon chưa làm Tổng thống đã ủng hộ nhiệt tình thuyết Domino, ông cho biết nếu VNCH mất vì Mỹ rút quân thì Miên, Lào, Thái Lan, Nam Dương cũng mất theo, nếu Mỹ bỏ VN thì Á châu sẽ bỏ Mỹ và Thái bình dương sẽ thành biển đỏ
(”If the United States gives up on Vietnam, Asia will give up on the United States and the Pacific will become a Red sea – answer.com). Ông cũng nói nếu VN mất thì Á châu cũng mất vì họ sẽ theo CS trước khi CS chiếm họ (if Vietnam is lost, all of Southeast Asia is lost… – answer.com.)

Tháng 2 năm 1965 theo thăm dò của Viện Harris đại đa số tức 78% người Mỹ cho rằng nếu họ rút khởi VN thì CS sẽ chiếm hết Đông Nam Á chỉ có 10% là không tin như vậy, thuyết Domino kêu gọi hành động và Johson không còn cách nào hơn là đưa đại binh vào VNCH năm 1965. Sau này năm 1969 Tướng Wesmoreland cho biết nếu Mỹ không đổ quân vào Đà Nẵng hồi ấy thì sẽ mất trong sáu tháng, Tướng Ngô quang Trưởng cũng nói năm 1965 rất nguy kịch, trung bình một tuần VNCH mất một quận và một tiểu đoàn (Trận Chiến Trong Mùa Phục Sinh 1972). Người dân ủng hộ lý thuyết này nhưng với điều kiện cứu VN với cái giá vừa phải thôi, về sau cái giá phải chăng đã vượt quá cao tới 500,000 quân và từ đó số người ủng hộ tụt thang nhanh chóng. Năm 1968 vẫn có người tin vào thuyết Domino nhưng ít hơn trước, thuyết cũng đã bị chê cười không được tin tưởng như trước nũa

1970 và những năm sau

Khi Domino trở thành vấn đề tranh phiếu, những người chủ trương bèn cải biến nó nhẹ bớt đi một tí, những người đối lập chế nhạo cho là thuyết này vô lý. Năm 1970 TT Nixon không nói như năm 1965: Nếu VNCH mất các nước khác sẽ mất theo nhưng ông nói các nước không CS ở Á châu sẽ mất tinh thần, CS Nga Trung Cộng sẽ lên tinh thần.
Năm 1975 VNCH sụp đổ nhưng Đông nam Á không bị mất như chuỗi con cờ domino. Căm Bốt mất trước VN, Lào bị mất nhưng thực ra đã bị CSBV chiếm từ trước, nước Mỹ không phải đương đầu với CS, không phải rút về một phòng tuyến lùi lại phía sau. CS Đông Dương không tiếp tay với Trung Cộng xâm lăng Thái Lan trái lại thập niên 80 Thái Lan và Trung Cộng hợp tác với nhau để chống lại CSVN. Những người chống lại thuyết Domino nói VNCH mất đã không khiến Đông Nam Á bị lâm nguy. Những người ủng hộ thuyết này cho rằng Domino đã mô tả đúng thực trạng thập niên 60. Nước Mỹ đã bảo vệ VNCH và đã đưa cái khiên ra che chở cho Thái Lan, Mã Lai, Nam Dương… không bị Trung Cộng hung hăng gây chiến. Thập niên 70 khi cái khiên (shield) được cất đi thì Đông Nam Á đã mạnh hơn và Trung Cộng đã dịu đi không còn gây chiến. Nhờ Mỹ giúp VNCH các tướng lãnh chống Cộng Nam Dương vững tinh thần đã đè bẹp cuộc nổi dậy của CS năm 1965.
Sau cuộc chiến tranh lạnh, một dòng thác đánh sập chế độ CS Đông Âu thập niên 80, 90 chứ không phải bị CS chiếm như thuyết Domino chủ trương. Năm 1989 Gorbachev không muốn giữ chế độ CS tại Đông Âu, CS đã sụp đổ tại Đông Âu và Sô Viết từ năm 1989 tới 1991.

Những người bênh vực

Như trên các người chủ xướng thuyết Domino thập niên 50, 60 đều đã nêu ra những lý do chính đáng để can thiệp vào Đông Dương trải qua các thập niên 50, 60. Các nhà hành pháp Mỹ trong các giai đoạn trên đã thực hiện thuyết Domino cụ thể bằng viện trợ quân sự và gửi quân sang tham chiến tại VN. Hầu hết các chính khách lập pháp cũng như hành pháp đều ủng hộ lý thuyết trong những thập niên này.
Sau này những người bênh vực Domino như Walt Rostov, phụ tá TT Johnson, Lý Quang Diệu Thủ tướng Tân Gia Ba cho rằng Mỹ can thiệp vào Đông Dương đã cho các nước Đông Nam Á củng cố và phát triển kinh tế chống lại ảnh hưởng của thuyết Domino. Mc George Bundy cố vấn TT Kennedy và Johson nói thuyết Domino ảnh hưởng mạnh thập niên 50 và 60, năm 1965 nó yếu đi sau khi Nam Dương tiêu diệt được phong trào CS trong nước. Những người chủ xướng Domino cho rằng kế hoạch ngăn chận (containment) đã đưa tới sụp đổ Sô Viết chấm dứt chiến tranh lạnh.
Vài người ủng hộ thuyết này cho rằng trong lịch sử CS đã viện trợ cho các nước lân bang như Trung Cộng giúp BV về tiếp liệu, Nga Sô giúp BV xe tăng, vũ khí nặng. BV lại giúp Khmer đỏ và Pathet Lào, Mặt trận giải phóng.

Những người chống đối.

Những người chống đối thuyết này cho rằng thuyết này kỳ lạ, chưa hề có chuyện một nước bị mất kéo theo một lô các nước khác mất theo, tại sao người ta nghĩ tới một hậu quả khi mất VN còn hơn hậu quả đã mất Trung Hoa. Nhiều người cũng nghĩ tại sao Trung Hoa sụp đổ không gây ra sụp đổ cho những nước khác mà một nước nhỏ như VN có thể gây sụp đổ nhiều nước hàng loạt.
Có ý kiến phản bác cho rằng Trung Hoa mất 1949, Miến Điện nằm sát Tầu mà không bị mất về tay Trung Cộng thế mà Đông Dương chỉ chỉ bằng 1/8 diện tích nước Tầu, dân số chỉ bằng 5% dân Tầu không có biên giới với Miến Điện không có đường chở vũ khí sang Miến Điện như Tầu với Miến làm sao chiếm Miến được. Radford nói mất đồng bằng Bắc Việt sẽ mất Miến Điện trong khi BV chỉ bằng 2% dân số Trung Hoa. Đông Dương chỉ là nước nhỏ nếu mất Đông Dương tại sao họ đủ sức chiếm Đông Nam Á. Thuyết Domino nói nếu Đông Dương, BV mất, thế giới thấy Mỹ không ngăn chận CS thì họ sẽ làm tới, các nước không CS sẽ không tin tưởng Mỹ mất tinh thần, nhiều người cho có sự mơ hồ về chữ CS, mất Đông Dương CS sẽ chiếm Đông nam Á, CS nào? CS Nga hay Tầu hay CSVN?
Chứng cớ VNCH sụp đổ các nước Đông Nam Á không bị mất theo khiến những người này cho rằng chiến tranh Đông Dương có tính quốc gia hơn là do CS, thí dụ như trong chiến tranh chống Pháp không có vấn đề CS quốc tế như người ta tưởng. CS lúc ấy đã có tính quốc gia như Nga, Tầu chia rẽ trầm trọng, CS Miên và CSVN chia rẽ, một theo Tầu, một theo Nga đưa tới chiến tranh giữa CSVN và CS Miên thập niên 80, CSVN và Trung Cộng giao tranh với nhau năm 1979.
Những người này cho rằng Domino đã diễn tả sai thực trạng của sự chống đối mạnh của người dân đối với chính quyền do Mỹ yểm trợ, chính quyền này thối nát áp bức người dân nhất là ở miền nam VN. Những người không ủng hộ như giáo sư Alistair McMillan cho rằng thuyết này phóng đại không để ý tới những yếu tố đặc biệt của từng quốc gia. Những người chống lại Domino cho rằng nhiều nước Đông Nam Á không có biên giới với Việt Nam làm sao có thể mất hàng loạt như trong ván cờ domino được.

Domino với CS ngoài Á châu.

Michael Lind, nhà văn Mỹ lý luận mặc dù thuyết Domino không ảnh hưởng với các nước lân cận nhưng có một trào lưu quốc tế CS lên cầm quyền tại Benin, Ethiopia, Guinea-Bissau, Madagascar, Cape Verde, Mozambique, Angola, Afghanistan, Grenada, và Nicaragua thập niên 70. Ảnh hưởng toàn cầu của Domino như trên dựa trên ý nghĩa tinh thần, uy tín của thuyết có nghĩa là sự thành công của các nước CS mặc dù nó đã không viện trợ cụ thể vật chất nhưng đã cóù ảnh hưởng tinh thần.
Nhà cách mạng Argentine Che Guevara năm 1967 nói cần có một, hai hoặc nhiều Việt Nam trên toàn thế giới. Sử gia Max Boot nói cuối thập niên 70 kẻ thù Mỹ nắm quyền tại Mozambique cho tới Iran và Nicaragua. Khmer Đỏ bắt giữ tầu Mỹ SS Mayaguez ngoài khơi hải phận quốc tế, Iran bắt giữ các nhà ngoại giao Mỹ tại Teheran, Hồng quân chiếm Afghanistan… mặc dù không có liên hệ tới chiến tranh VN nhưng điều chắc chắn là một siêu cường như Mỹ bị bại trận đã khiến kẻ địch khinh thường và gây hấn.
Ngoài ra thuyết cũng được chứng tỏ qua những cuộc khủng bố của nhóm khuynh tả tại Tây Âu do chính quyền CS yểm trợ từ thập niên 60 tới 80. Tại Ý kể cả việc bắt cóc sát hại cựu thủ tướng Ý Aldo Moro và việc đạo quân đỏ bắt cóc cựu Thiếu tướng Mỹ James L. Dozier. Tại Tây Đức có khủng bố của những toán quân Đỏ, tại Anh có khủng bố do Nga yểm trợ…
Năm 1977 Nixon xác nhận Chí lợi và Cuba có thể khiến châu Mỹ Latin vào vòng CS, thập niên 80 Domino lại được Regean dùng để để can thiệp vào Trung Mỹ và vùng vịnh Caribbean.
Năm 2003 chính phủ Bush nói đem quân sang Iraq để đem dân chủ tự do sang cho lan truyền ra tại Trung Đông, người ta nói đây là thuyết Domino đảo ngược (reverse Domino theory)

Nhận xét

Trước Thế chiến Thứ Hai 1939-1945 trên thế giới chỉ có một mình nước Nga theo chế độ Cộng sản, nhưng sau 1975 đã có 17 nước xã hội chủ nghĩa do chính sách xâm lấn theo kiểu tầm ăn dâu của CS. Khác với Trostky, nhà lãnh đạo Đệ Tứ Quốc Tế người bất đồng chính kiến với Staline chủ trương phải nhanh chóng tiến lên vô sản hóa toàn thế giới đã bị giết tại Mễ Tây Cơ năm 1940, Staline chủ trương chỉ tiến lên xã hội chủ nghĩa tại nước Nga mà thôi. Sau Thế chiến Thứ hai 1945 cơ hội bất ngờ do sự tình cờ của lịch sử đưa tới, Staline lại đi theo con đường của Trostky để nhanh chóng tiến lên vô sản hóa toàn thế giới.
Tháng 6 năm 1944, Mỹ đổ bộ Normandie tiến quân vào Tây Âu. Người Mỹ nhượng bộ cho Nga gần như toàn bộ Đông Âu phần vì họ nằng nặc đòi hỏi và đưa lý do đã phải hy sinh quá nhiều, hơn hai mươi triệu dân và lính Nga đã chết trong cuộc chiến, phần vì Mỹ muốn tiết kiệm xương máu nhờ Nga giúp một tay đánh quân Nhật ở mặt trận Á châu mà họ dự trù còn kéo dài hai năm nữa. Thế là chế độ CS tự nhiên bành trướng thật nhanh trên thế giới nhờ chiếm được một nửa Âu châu và rồi lại tiến sang châu Á.
Năm 1949 nhờ Nga giúp vũ khí tối đa Mao đã nhanh chóng chiếm được nước Tầu. Mỹ bỏ rơi Trung Hoa đã khiến cho cán cân lực lượng trên thế giới lệch hẳn di, CS quốc tế không ngừng ở đây mà tiếp tục gây chiến tại Triều Tiên tháng 6-1950 khiến Mỹ phải lấy danh nghĩa Liên Hiệp Quốc nhẩy vào can thiệp cho tới tháng 7-1953 mới chấm dứt. Ngay sau khi Mao thắng Tưởng 1949, CS quốc tế lại tiếp tục yểm trợ vũ khí cho Việt Minh dưới danh nghĩa giải phóng dân tộc để nhuộm đỏ Đông Dương. Năm 1948 Việt Minh thành lập được 32 tiểu đoàn chính qui, năm 1950 lực lượng VM tăng vọt lên 127 tiểu đoàn.
Trước nguy cơ Cộng Sản tràn xuống Đông Nam Á, cuối tháng 10-1950 Mỹ nhẩy vào vòng chiến viện trợ quân sự cho Pháp 300 triệu đô la, 40 máy bay chiến đấu. Năm 1954 Pháp thất trận Diện Biên Phủ ký Hiệp Định Genève chia đôi đất nước. Năm 1955 Mỹ hất cẳng Pháp nhẩy vào Đông Dương để kịp thời ngăn chận bước tiến của CS, người Mỹ muốn chứng tỏ cho CS quốc tế biết họ không chịu nhượng bộ, không chịu bỏ dù là một tấc đất.
Cuộc chiến tranh Đông Dương không ngừng ở đó mà tiếp tục tại phần đất còn lại dưới vĩ tuyến 17. Sau khi lật đổ chính phủ Ngô Đình Diệm cuối 1963, cường độ chiến tranh ngày càng mở rộng gấp bội trước. Cuộc chiến VN giai đoạn 1955-1975 rộng lớn hơn trước, về hình thức bên ngoài là cuộc chiến giữa hai miền Nam Bắc VN nhưng thực ra nếu nói về hỏa lực, vũ khí thì nó là cuộc chiến giữa Mỹ và CS quốc tế gồm Nga, Trung Cộng, và các nước xã hội chủ nghĩa anh em, Bắc Việt chỉ là con tốt lợi hại của CS quốc tế.

Theo tiết lộ của Viện Lịch Sử Quân Sự CSVN ngày 15-4-2006 (BBC.com) trong thời gian 1960-75 CS quốc tế gồm Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa khác đã viện trợ cho BV:
Súng bộ binh: 3,609,863 khẩu.
Súng chống xe tăng: 65,626 khẩu.
Súng cối: 27,936 khẩu.
Đạn tên lửa: 10,169 quả.
Máy bay chiến đấu: 458 chiếc.
Ngoài ra trong cuốn “5 Đường Mòn Hồ Chí Minh” của Đặng Phong trang 120 dựa theo Đại Tá CSBV Trần Tiến Hoạt trong bài “Nguồn viện trợ to lớn của Liên Xô, Trung Quốc và Các nước XHCN” có nói rõ thêm nhiều chi tiết, chúng tôi xin sơ lược như sau:
Pháo hoả tiễn: 2,430 khẩu.
Pháo mặt đất: 2,770 khẩu.
Pháo cao xạ: 3,229 khẩu.
Tên lửa SA 75M: 23 quả.
Tên lửa VT 50v: 8,686 quả.
Tên lửa Hồng Kỳ: 1 trung đoàn.
Tên lửa S125: Hai trung đoàn.
Đạn tên lửa K681: 960 quả.
Tầu chiến hải quân: 82 chiếc.
Tầu vận tải hải quân: 148 chiếc.
Xe tăng các loại: 1,249.
Xe bọc thép: 970 chiếc.
Xe xích kéo pháo: 2,412
(Chúng tôi đã cộng lại số viện trợ của các nước)

Khi mới đưa quân vào VNCH từ những năm 1964 là 23,300 người và 1965 là 184,300 người Hoa Kỳ tưởng rằng với hỏa lực hùng hậu họ sẽ đè bẹp đối phương nhanh chóng nhưng thực tế cho thấy hỏa lực của CS quốc tế viện trợ cho BV không đến nỗi tệ như họ nghĩ. Cho tới cuối năm 1966 có 832 chiếc máy bay Mỹ bị địch bắn rơi (Đoàn Thêm, 1966, Việc Từng Ngày trang 223), toàn bộ cuộc chiến có 2,251 chiếc bị CS bắn hạ (en.wikipedia.org). Ngày 16-12-1972 tại cuộc Hòa đàm Paris, BV bỏ không thèm họp tiếp mặc dù bị Mỹ hăm dọa oanh tạc ồ ạt điều này chứng tỏ họ đã được Nga cung cấp một lực lượng phòng không hùng hậu nên mới dám hung hăng như thế, trong trận oanh tạc Giáng Sinh 1972, CSBV đã bắn hạ 15 B-52 và 12 phi cơ chiến thuật khác.
Từ sau khi miền Nam VN sụp đổ đến nay rất nhiều chính trị gia, chuyên viên Hoa Kỳ lên án cuộc phiêu lưu sai lầm của nước họ tại một lãnh thổ xa xôi ở bên kia nửa vòng trái đất.
Vào ngày 10-3-2006 hằng trăm chuyên viên, chính trị gia nghiên cứu về sự can thiệp của Hoa Kỳ vào Việt Nam đã tề tựu tham gia cuộc hội thảo tại thư viện Kennedy thành phố Boston để thảo luận đề tài “Chiến tranh Việt nam và các Tổng thống Hoa kỳ”. Họ cho rằng đó là một cuộc chiến sai lầm mang lại nhiều tai hoạ. Bà Giám đốc thư viện nói các vị Tổng thống Hoa kỳ đã dìm nước Mỹ ngày càng lún sâu vào cuộc chiến tranh Việt Nam, các vị đó đã tin rằng điều mình đang làm là phải nhưng thật ra chỉ là một sự liều lĩnh, theo bà một sử gia nói nó chỉ là một sự tính toán sai lầm về chính sách trong lịch sử đối ngoại của Hoa Kỳ. Một sử gia là diễn giả trong buổi hội thảo nói có một vài cuộc chiến tranh là chính đáng, theo ông cuộc chiến tranh Việt Nam không chính đáng.
Năm 1995 cựu bộ trưởng quốc phòng McNamara viết hồi ký In Retrospect: The Tragedy and Lessons of Vietnam (Hồi tưởng, Thảm kịch và những bài học VN) nói ông và các cộng sự viên đã hoàn toàn sai lầm theo đuổi cuộc chiến tranh như thế. McNamara nay xác nhận thuyết Domino là sai lầm trái với những năm đầu thập niên 60 ông là một trong những người ủng hộ nó mạnh mẽ nhất.
Nếu nói cuộc chiến tranh VN là sai lầm hoặc thuyết Domino là sai có nghĩa là nước Mỹ đúng ra không đổ quân can thiệp vào VN thập niên 60 nhất là năm 1965, có nghĩa là phải bỏ rơi Đông Dương từ hồi ấy chứ không phải từ 1975. Như chúng ta đã thấy ở trên thập niên 60 tại Mỹ nhất là năm 1965, từ hành pháp cho tới lập pháp người ta đều thấy mối nguy cơ CS đang bành trướng tại Á châu, gần 80% dân chúng ủng hộ chính phủ cho rằng nếu rút khỏi VN thì sẽ mất Á Châu. Người Mỹ đã lo ngại nếu để Đông Dương lọt lào tay CS thì các nước Đông Nam Á sẽ sẵn sàng đầu hàng theo CS vì không còn tin vào sự giúp đở của Mỹ. Người Mỹ đổ quân vào VNCH là vì quyền lợi của đất nước họ trong giai đoạn ấy, điều này trên thế giới ai cũng đều thấy cả.
Nay nhiều người Mỹ cho rằng thuyết Domino sai, họ lý luận sau khi VN và Đông Dương bị CS chiếm năm 1975 các nước Đông Nam Á vẫn tồn tại, không có nước nào bị sụp đổ như trong ván cờ domino. Họ giải thích hoàn toàn sai diễn tiến của sự kiện vì từ 1972 hành pháp Mỹ đã bắt tay hòa hoãn được với Trung Cộng, đã giải quyết được tận gốc rễ của vấn đề, đã giải quyết tận gốc ảnh hưởng cũng như tác hại của thuyết Domino.
Thập niên 1960 thuyết Domino vẫn đúng vào thời điểm đó, giả sử trường hợp năm 1972 Mỹ không hòa được với Trung Quốc thì thuyết Domino vẫn còn vững mạnh, họ vẫn tiếp tục cuộc chiến chống CS quốc tế xâm lăng và như vậy chuyện bỏ Đông Dương từ những năm 1962, 1963… 1965… là hoàn toàn không tưởng, họ vẫn còn nhiều quyền lợi tại Đông Dương, quyền lợi ấy do tương quan “môi hở răng lạnh”. Cuộc chiến VN không thể tránh được trong giai đoạn đầu thập niên 50 và 60 trong khi CS quốc tế đang gây hấn và bành trướng thế lực khắp nơi, Mỹ không thể nào bỏ Đông Dương vì quyền lợi của chính họ trên thế giới bị đe dọa nghiêm trọng lúc ấy, từ người dân cho tới chính phủ và quốc hội đều đã nhất trí với nhau như vậy.
Nếu Mỹ đã không phản ứng quyết liệt với CS quốc tế trong cuộc chiến 1960-75 này thì còn lâu mới hòa hoãn được với Trung Cộng, chỉ sau khi quá mệt mỏi phải chi viện cho BV, Trung Cộng mới chịu hòa hoãn, năm 1966 báo Sài gòn cho biết theo một nguồn tin ngoại quốc hàng năm Trung Cộng đã viện trợ khoảng 2 tỷ Mỹ kim nhiên liệu cho BV.
Báo Tân Văn số 21 tháng 4-2009 có đăng bài điểm sách của giáo sư James G. Blight về cuốn “McGeeorge Bundy Và Con Đường Dẫn vào Cuộc Chiến Tranh Ở Việt Nam” do ký giả Gordon M. Goldstein biên soạn. Bundy là cố vấn an ninh (1961-1966) cho TT Kenndy và Johnson, tác giả Goldstein cho biết ông đã phỏng vấn Bundy và tham khảo nhiều hồ sơ giải mã, giải mật năm 2008. Nội dung cuốn sách có những điểm chính như Kennedy dự định bỏ VN từ tháng 11-1961, McNamara và Tướng Taylor đề nghị rút cố vấn về nước, Kennedy bắt đầu rút quân ra khỏi VN từ cuối 1963 ông không muốn sa lầy vào cuộc chiến tranh VN, Bundy đã sai lầm khi xúi dại TT Johson đổ quân vào VN 1965.
Tháng 2-1965 Bundy thăm VN, lên thăm căn cứ Mỹ tại Pleiku đã bị VC tấn công sau đó ông về Mỹ khuyên TT Johnson đưa quân vào VN, Bundy sau này rất ân hận đã xúi dại TT Mỹ đưa quân vào VN, một quyết định có thể coi như tai hại nhất trong lịch sử nước Mỹ đó là quyết định của Johnson gửi quân Mỹ đi chiến đấu thay thế cho quân đội VNCH.
Mặc dù tác giả Goldstein nói đã từng phỏng vấn Bundy, từng nghiên cứu các hồ sơ giải mã giải, mật nhưng các sự kiện chính nêu trên trong cuốn sách lại tỏ ra sai lịch sử. Năm 1960 McNamara nhận chức Bộ trưởng quốc phòng, được toàn quyền điều khiển cai quản Bộ quốc phòng và được coi như nhân vật số hai của hành pháp Mỹ thời Kennedy cũng như thời Johnson, điều này ai cũng đều biết cả, trong khi Bundy chỉ là tay cố vấn thầy dùi ít được nghe nói tới. Người có ảnh hưởng nhiều nhất tới Johnson là McNamara chứ không phải thầy dùi Bundy. Năm 1961 trước tình hình CS gia tăng áp lực, Tổng thống Kennedy cho gia tăng quân số VNCH từ 170 ngàn người lên 200 ngàn người tăng cố vấn quân sự lên 3,200 người, viện trợ 2 chi đoàn thiết giáp M-113, ba đại đội trực thăng, 16 phi cơ vận tải C-123. Nhờ viện trợ quân sự của Hoa Kỳ chính phủ VNCH đã bình định được miền Nam. Nếu Kennedy cho rút quân về nước bỏ VN thì tại sao phải làm đảo chánh cuối năm 1963 để lật đổ chính phủ Ngô Đình Diệm? Thật là mâu thuẫn hết chỗ nói.
Bundy nói ông đã xúi dại TT Johnson đổ quân vào VNCH năm 1965 để chiến đấu thay quân đội VNCH là hoàn toàn sai. Ngày 6-4-1969 Tướng Wesmoreland, cựu Tổng Tư lệnh quân đội Mỹ tại VN và Đô đốc Sharp cựu tổng tư lệnh Mỹ tại Thái bình dương công bố bản phúc trình 347 trang về chiến cuộc tại Việt Nam trong 4 năm chỉ huy. Theo các Tướng nếu Hoa Kỳ không đưa quân sang VN năm 1965 thì VNCH chắc đã mất trong thời gian 6 tháng. Trung Tướng Ngô Quang Trưởng (Trận Chiến Trong Mùa Phục Sinh 1972) cũng nói y như vậy, giữa năm 1965 trung bình một tuần VNCH mất một quận và một tiểu đoàn, nếu Mỹ không đổ quân vào cứu nguy thì đã mất từ cuối năm 1965 nguyên do viện trợ quân sự Mỹ cho VNCH không đủ để tự vệ. Trong suốt cuộc chiến tranh hỏa lực VNCH do Mỹ viện trợ luôn luôn thua kém hỏa lực BV do CS quốc tế viện trợ, theo ông Cao Văn Viên năm 1972 nếu không có B-52 yểm trợ thì VNCH đã mất Quảng Trị, Kontum, Bình Long.
Như đã nói ở trên năm 1965 thực trạng của tình thế đã đòi hỏi người Mỹ phải đổ quân vào VNCH chứ không phải quyết định riêng của Johnson hay McNamara, 78% dân chúng, lưởng viện quốc hội Mỹ đều muốn họ phải can thiệp vào VN không phải do lời cố vấn của Bundy. Theo thuyết định mệnh lịch sử của văn hào Léon Tolstoi trong Chiến Tranh Và Hòa Bình, vĩ nhân không có ảnh hưởng gì tới lịch sử, họ chỉ là quân cờ của lịch sử huống hồ Bundy không phải là một vĩ nhân, chỉ là một tay thầy dùi ít ai biết tới. Năm 1965 người Mỹ phải đổ quân vào VNCH là một tất yếu lịch sử, họ tự cứu chính đất nước họ, vì quyền lợi của chính họ trước nhất.
Hai mươi năm sau khi chiến tranh VN chấm dứt, Kissinger trong cuốn Diplomacy xuất bản 1995 có nói về nguyên nhân hậu quả cuộc chiến tranh VN như sau:

“Nước Mỹ, với bất cứ giá nào đã phải trả giá cho cuộc phiêu lưu tại miền Nam của mình, cái giá phải trả này không tỉ lệ với những gì mà nước Mỹ đã thu được. Rõ ràng đây là một lỗi lầm vì đã đặt trọng tâm quá nhiều vào một nguyên nhân không được định nghĩa rõ ràng . . . .
. . . Quá lý tưởng để đặt chính sách của mình trên quyền lợi quốc gia, và đặt trọng tâm quá nhiều trên những điều kiện của một cuộc chiến tranh tổng thể và quan niệm chiến lược của mình, nước Mỹ không thể xoay trở được trong khó khăn về chiến lược lạ lùng mà trong đó những mục tiêu về chính trị và quân sự kết liền nhau. Với niềm tin vào giá trị chân thật của mình, nước Mỹ đã đánh giá một cách hết sức sai lầm những trở ngại để dân chủ hóa một xã hội chịu ảnh hưởng bởi lý thuyết Khổng Mạnh.
. . . . . .
. . . . Lý tưởng của Mỹ đã khiến cả hai phía chính quyền và đối lập quan niệm một cách sai lầm rằng xã hội VN có thể được biến đổi một cách dễ dàng và nhanh chóng thành một thể chế dân chủ theo lối Mỹ. Một khi hy vọng lạc quan này sụp đổ và VN cho thấy còn rất xa một nền dân chủ thì sự chán nản là một điều không thể tránh được”
Nguyễn Đức Phương trích dịch, Chiến Tranh VN Toàn Tập trang 52

Kissinger nói Mỹ quá lý tưởng để đặt chính sách của mình trên quyền lợi quốc gia, ông đã tô vẽ cho sự can thiệp của Mỹ vào VNCH một cách gượng gạo, thuyết Domino đã một thời thúc đẩy Hiệp Chúng Quốc từ người dân đến lập pháp, hành pháp vào con đường bảo vệ quyền lợi cho chính đất nước của họ chứ chẳng phải vì một lý tưởng nào. Nếu Mỹ vào VN vì lý tưởng dân chủ hóa, bảo vệ tự do độc lập cho VN thì tại sao họ đã không được các đồng minh Anh, Pháp ủng hộ và yểm trợ? Các đồng minh này biết rõ Mỹ chỉ vì quyền lợi riêng của mình. Nếu vì lý tưởng dân chủ thì tại sao Hoa Kỳ không đem quân vào các nước độc tài CS như Việt Nam, Cuba, Bắc Hàn, Trung Quốc, Miến Điện… để biến các nước ấy thành một nước dân chủ tự do mà phải dân chủ hóa miền Nam VN?
S.A Herington, một sĩ quan Mỹ đã nhận định trong cuốn Peace With Honor? xuất bản năm 1983.

“Một đồng minh thiếu nhẫn nại trong một cuộc chiến tranh dài hạn, tại một quốc gia xa xôi, theo ý kiến các nhân tôi, là nguyên nhân duy nhất đưa đến sự tàn lụi của VNCH. Cố gắng của chúng ta để cứu Miền Nam VN khỏi tay CS đã biến thành một sứ mạng mông lung kéo dài cho đến khi cử tri Mỹ quá mệt mỏi, chán nản và bắt đầu đi tìm một lý do để quên đi. Lý do trong trường hợp này là kết luận rằng Miền Nam VN không đáng được cứu vớt”
Nguyễn Đức Phương trích dịch, Chiến Tranh VN Toàn Tập trang 53.

Cũng như nhận định của Kissinger, ông sĩ quan này cũng đề cao vai trò của Mỹ trong cuộc chiến tranh VN, sự can thiệp của người Mỹ vào Đông Dương chẳng qua chỉ là để đẩy biên giới của Hoa Kỳ càng xa càng tốt chứ chẳng phải để cứu ai cả. Nay đã hòa được với CS quốc tế nhất là Trung Quốc thì vấn đề khỏi phải đặt ra. Bây giờ người dân Mỹ, hành pháp, lập pháp đều nhất trí với nhau rằng thuyết Domino đã được giải quyết tận gốc, quyền lợi của họ tại VN không còn thì “tẩu vi thượng sách”.
Ngày 2-8-1990 Saddam Hussein đem quân chiếm Kuwait, Mỹ đem quân tới mở chiến dịch Desert Storm giải phóng Kuwait bằng một lực lượng vĩ đại gồm 959,000 quân, 1,820 máy bay chiến đấu, 3,300 xe tăng, 8 hàng không mẫu hạm, 47 tầu chiến (Gulf war- en.wikipedia.org). Chiến dịch bắt đầu từ 23-2-1991 đến 28-2-1991 đã thành công, giải phóng được Iraq. Nếu mất Kuwait, sẽ mất Saudi Arabia, Iran, Ai Cập… và dần dần mất hết các mỏ vàng đen tại Trung Đông, Bắc Phi về tay Saddam Hussein, như vậy không phải do thuyết Domino thì là cái gì? Chẳng lẽ Mỹ đem quân để cứu nước Kuwait vì độc lập tự do? Khi nào thuyết Domino mang lại lợi ích thì đúng, còn khi nào không có lợi coi như sai lầm.
Năm 2003 Mỹ đổ quân chiếm Iraq nếu là để dân chủ hóa đất nước này thì tại sao lại bị đồng minh Pháp, Đức phản đối, đó là cuộc chiến vì vàng đen mà ai cũng đều biết cả nhưng nhiều người Mỹ cho rằng TT Bush đem dân chủ tự do sang cho lan truyền ra tại Trung Đông, người ta nói đây là thuyết Domino đảo ngược (reverse domino theory), thật là diễu hết chỗ nói.

Kết Luận.

Vào những năm đầu của cuộc chiến tranh Đông Dương giai đoạn hai người Mỹ hăm hở đổ quân vào VN nói là để cứu nguy đồng minh nhưng họ không Việt Nam hóa chiến tranh sớm hơn để miền Nam khỏi bị mất chính nghĩa. Quân phí hàng năm của Mỹ tăng dần như sau:

“Năm 1964: 403 triệu MK
Năm 1965: 646,1 triệu MK
Năm 1966: 5,8 tỷ MK
Năm 1967: 20,1 tỷ MK
Năm 1968: 26,5 tỷ MK.
Năm 1969: 28,8 tỷ MK”
(Đoàn Thêm “1969 Việc Từng Ngày”, trang 338)

Viện trợ quân sự của CS quốc tế cho BV cũng tăng nhanh như sau: Giai đoạn 1955-60 là 45,480 tấn vũ khí, giai đoạn 1961-64 lên 70,065 tấn vũ khí, giai đoạn 1965-68 lên 411,779 tấn vũ khí, giai đoạn 1969-72 lên 684,666 tấn vũ khí… (BBC.com)
Mới đầu người Mỹ tỏ ra khinh địch và quá ỷ lại vào hỏa lực của mình nên đã bị sa lầy dần, không phải CSBV có chiến thuật chiến lược hay mà số lượng vũ khí của CS quốc tế viện trợ cho họ không đến nỗi tệ. Ít có người Mỹ nào chịu nhìn nhận họ thất bại mà chỉ đổ thừa cho đồng minh thối nát, cuộc chiến sai lầm, thuyết Domino không đứng vững.
Cuộc chiến VN giai đoạn hai trên thực tế chỉ là sự đụng độ giữa Mỹ và CS quốc tế, BV chỉ là con tốt lợi hại, sau hơn mười năm mệt mỏi và tốn kém, cả Mỹ và Trung Cộng đã hòa hoãn với nhau. Nhưng ta thấy Mỹ chỉ có thể hòa hoãn, bắt tay được Trung Cộng sau khi họ đã chống chọi quyết liệt với chính sách, kế hoạch tầm ăn dâu của CS quốc tế, bằng cứ là họ không thể bắt tay với Trung Cộng từ những năm 1964, 1965, 66…
Cũng nhờ xương máu của quân dân miền Nam trong cuộc chiến đấu lâu dài Hoa Kỳ đã hòa được với Trung Cộng, ít có người Mỹ nào nhìn nhận như thế hoặc giả vờ không nhìn thấy sự thật. Kissinger nói nước Mỹ đã phải trả giá cho cuộc phiêu lưu tại miền Nam của mình mà không thu được gì cả, sự thực không phải thế, cái mà họ thu được là đã giải quyết được tận gốc rễ thuyết Domino và đã được một thị trường rộng lớn nơi cung cấp cho họ nhiều chục triệu sức lao động rẻ mạt tuy phải trả giá cuộc chiến khá cao. Người Mỹ cũng nên biết CS quốc tế cũng đã trả giá tương đương nhưng không bao giờ có một lời than thở.
Nhân dân miền Nam biết ơn người bạn Đồng Minh Hoa Kỳ đã đem xương máu, vũ khí tài lực để bảo vệ miền Nam VN được sống thoải mái một thời gian khá dài nhưng người Mỹ cũng nên biết rằng nhờ sự hy sinh gian khổ, nhờ máu và nước mắt của nhân dân Miền Nam VN mà họ đã hòa hoãn được với CS quốc tế, Trung Quốc đã giải quyết được tận gốc rễ thuyết Domino, đã thay đổi cả một kỷ nguyên. Người Mỹ vẫn chưa nhìn nhận sai lầm của họ ngay từ đầu, họ không bao giờ chi viện vũ khí cho miền nam VN tương đương với hỏa lực mạnh mẽ của BV mà chỉ muốn viện trợ cầm chừng nên bao giờ VNCH cũng phải phụ thuộc vào yểm trợ của không lực Mỹ. Ngoài ra Mỹ thua trận vì đã để lộ sự yếu kém của mình, Bắc Việt đã thấy được cái “tẩy” của anh nhà giầu là “sợ chết”, họ sẵn sàng lấy 16 mạng cán binh đổi một mạng lính Mỹ để giành chiến thắng.
Cho tới nay đa số người Mỹ đã nhìn nhận cuộc chiến này là sai lầm, sai lầm nếu có là họ đã tham gia một cuộc chiến không cân xứng giữa một anh nhà giầu sợ chết và thằng nghèo đói đánh thí mang cùi. Người Mỹ không nhìn nhận thất bại của họ mà chỉ cho đó là sai lầm, mặc dù đã bắt tay được Trung Hoa đỏ nhưng đã phải trả cái giá cao về thể diện.
Khoảng 7 giờ rưởi chiều ngày 28-4-1975, đài BBC Luân Đôn trong bài bình luận cho biết ông Dương Văn Minh đã được cử lên giữ chức vụ Tổng thống để chuẩn bị cho một cuộc đầu hàng, bằng giọng mỉa mai cay đắng người xướng ngôn viên nói:

“Người Mỹ đang chuẩn bị rút lui êm thắm, họ cố gắng bằng mọi cách để giữ gìn thể diện dù phải tháo chạy nhưng Hà Nội đang ra sức làm cho người Mỹ phải bị bẽ mặt đến cùng để còn rêu rao cho cả Á châu được thấy…”

Hoa Kỳ bị mất thể diện và gần 60 ngàn lính vì cuộc chiến tranh VN nhưng miền Nam VN còn mất mát gấp bội lần như thế:
Đất nước mất về tay Cộng Sản, khoảng trên 200 ngàn quân nhân tử trận, vài trăm ngàn thường dân bị thiệt mạng, hàng trăm ngàn người bị trả thù, bị giam giữ trong các trại tập trung lâu dài, hàng mấy trăm ngàn người bỏ xác dưới đáy biển trên đường vượt biên chạy trốn CS.
Miền Nam VN đã trả cái giá quá đắt cho cuộc chiến tranh dài nhất thế kỷ mà cuối cùng đã bị mất trắng tay tất cả, chẳng còn gì để thu lại.

Trọng Đạt

(Trích trong Cuộc Chiến Việt Nam Dưới Nhiều Khía Cạnh, xuất bản 2010)

Tài Liệu Tham Khảo:

- www.answer.com/topic/domino-theory: Domino theory.
- www.spartacus.schoolnet.co.uk/cold.domino.htm: Domino theory.
Wfps.k12.mt.us/…/carmichaelg/vietnam_domino_theory.htm:Vietnam Domino Theory.
en.wikipedia.org/wiki/Domino_theory: Domino theory.
- www.martinfrost.us/htmlfiles/april-2009/domino-theory-html: Domino theory.
- www.faqs.org/qua/qua-3818.html: What is the Domino theory.
- www.english.illinois.edu/maps/vietnam/causes.htm: The causes of the Vietnam war.
en.wikipedia.org/wiki/aircraft_losses_of_the_Vietnam_war: Aircraft losses of the Vietnam war.
- www.gwu.edu: operation desert storm.
En.wikipedia.org: Gulf war.
- Google: Research at the National Archives, Statistical information about casualties of the Vietnam war.
- Leo. Tolstoy: War And Peace, The Maude translation, W.W Norton & Company, Inc 1966.
- BBCVIETNAMESE.Com: Viện Trợ Quốc Tế Cho Miền Bắc Trong Chiến Tranh, 10-5-2006.
- Đặng Phong: 5 Đường Mòn Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Trí Thức, Hà Nội 2008
- Những Bài Học Về Một Thảm Họa, McGeorge Bundy Và Con Đường Dẫn Vào Cuộc Chiến Tranh Ở Việt Nam – McGeorge Bundy and the Path to War in Vietnam – sách mới của tác giả Gordon M. Goldtein, 300 trang – bài điểm sách của Giáo sư James G. Blight, C.D Lạc Long Tư dịch, Tân Văn số 21 tháng 4-2009.
- Nguyễn Kỳ Phong: Người Mỹ Và Chiến Tranh Việt Nam: Người Việt Dallas 21-6-2006.
- Ngô Quang Trưởng: Trận Chiến Trong Mùa Phục Sinh Năm 1972, Trung Tâm Quân Sử Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ, bản dịch của Kiều Công Cự, xuất bản 2007
- Nguyễn Đức Phương: Chiến Tranh Việt Nam Toàn Tập, 1963-1975, Làng Văn 2001.
- Cao Văn Viên: Những Ngày Cuối Của Việt Nam Cộng Hòa, Vietnambibliography, 2003.
- Đoàn Thêm: 1966 Việc Từng Ngày, Xuân Thu.
- Đoàn Thêm: 1969 Việc Từng Ngày, Xuân Thu.
- Nguyễn Kỳ Phong: Vũng Lầy Của Bạch Ốc, Người Mỹ Và Chiến Tranh Việt Nam 1945-1975, Tiếng Quê Hương 2006.
- Nguyễn Tiến Hưng: Khi Đồng Minh Tháo Chạy, Hứa Chấn Minh, 2005.
- Hoàng Lạc, Hà Mai Việt: Việt Nam 1954-1975, Những Sự Thật Chưa Hề Nhắc Tới, Texas 1990.
- The Word Almanac Of The Viet Nam War: John S. Bowman – General Editor, A Bison-book 1985.
- Stanley Karnow: Viet Nam, A History, A Penguin Books 991.