Thứ Tư, 15 tháng 8, 2012

Chiến dịch Lam Sơn 719 của Mỹ-ngụy và tầm nhìn của Tổng hành dinh Hà Nội


Chiến dịch Lam Sơn 719 của Mỹ-ngụy và tầm nhìn của Tổng hành dinh Hà Nội                                                                                                                            



































bản đồ chiến dịch đường 9 - Nam Lào.

QĐND - Từ đầu năm 1970, dự kiến âm mưu mới của đế quốc Mỹ trong thế bị động chiến lược ở Miền Nam Việt Nam, hội nghị lần thứ 18 của Ban Chấp hành Trung ương nhấn mạnh yêu cầu chuẩn bị sẵn sàng phối hợp với quân đội Pa-thét Lào và LLVT cách mạng Cam-pu-chia trong tình huống địch mở rộng chiến tranh ra 3 nước Đông Dương. Tin tình báo chiến lược cho biết, qua bản kế hoạch được ký kết giữa Mỹ và Bộ Tổng tham mưu Sài Gòn tháng 2-1970, ngoài việc phong tỏa cảng biển, đưa bộ binh sang Lào và Cam-pu-chia, có nhiều khả năng địch mở các cuộc tiến công vào căn cứ, hành lang vận chuyển của ta và cũng không loại trừ tình huống địch tiến công ra miền Nam khu 4 (1). Các nguồn tin tình báo thường lưu ý Tổng hành dinh về yêu cầu bảo vệ đường vận chuyển chiến lược 559.
Vấn đề đặt ra với các cơ quan tham mưu, chính trị và hậu cần Tổng hành dinh là khẩn trương chuẩn bị để đi trước địch một bước có ý nghĩa chiến lược khi Mỹ-ngụy triển khai kế hoạch trên đây.  
Trung tuần tháng 3-1970, trong lúc Xi-ha-núc sang Pháp, tin tức về hàng loạt sự kiện diễn ra trên đất Cam-pu-chia khiến Tổng hành dinh tập trung chỉ đạo mạng lưới tình báo chiến lược ở Miền Nam và trên đất Cam-pu-chia chú ý bám sát âm mưu mới của địch (2). Cuộc đảo chính lật đổ Chính phủ Xi-ha-núc là một sự kiện quan trọng, mở đường cho quân Mỹ tiến vào đất Chùa Tháp, tạo điều kiện để Oa-sinh-tơn hợp pháp hóa chính quyền Lon-non, liên kết quân đội tay sai trên ba nước Đông Dương, cắt đường vận chuyển của ta từ Cam-pu-chia sang Miền Nam Việt Nam đồng thời cũng làm tăng thêm khả năng Mỹ sẽ tập trung không quân đánh phá đường chiến lược 559 hòng cô lập chiến trường Miền Nam.
Sau khi có tin đảo chính, Bộ Chính trị họp và nhận định: Cuộc phiêu lưu này là một sai lầm nghiêm trọng về chiến lược của đế quốc Mỹ. Thống nhất với nhận định của Trung ương cục Miền Nam, Bộ Chính trị cho rằng trước mắt ta có thể gặp khó khăn trong việc chi viện chiến trường, nhưng nếu ta biết tương kế tựu kế khoét sâu sai lầm của địch thì tình hình sẽ dẫn đến một thời cơ có lợi cho ta, bất lợi cho địch.
Từ cuối tháng 3, theo đề nghị của lực lượng cách mạng Cam-pu-chia, quân ta giúp bạn tiến công địch ở một số nơi nhằm mở rộng khu căn cứ. Trong khi đó, trên đất Lào, Mặt trận Trung Hạ Lào được thành lập, sẵn sàng phối hợp với bạn và với Bộ Tư lệnh 559 bảo vệ Đường Hồ Chí Minh. Tổng hành dinh điều thêm lực lượng công binh vào để khẩn trương mở thêm đường mới nhằm phục vụ cho việc chuyển quân, nhất là các trang bị nặng.
Máy bay trực thăng, xe thiết giáp địch bị diệt ở Bản Đông trong chiến dịch Đường 9 - Nam Lào. (Ảnh tư liệu).
Hạ tuần tháng 6, trong lúc đài nước ngoài dồn dập đưa tin về việc Mỹ lui quân khỏi đất Cam-pu-chia thì có tin tình báo báo cáo về khả năng địch tiến công ra Đường 559 (có thể là vùng La Hạp - Bản Đông) và vùng ba biên giới (có thể là A-tô-pơ). Cùng với chỉ thị “dự báo” sẵn sàng chiến đấu cho các chiến trường, nhất là lực lượng trên đường 559, cơ quan tham mưu cùng với các tổng cục bạn trong Tổng hành dinh triển khai hàng loạt nhiệm vụ mới đã từng dự kiến: Nghiên cứu phương án tác chiến, thiết bị chiến trường, chuẩn bị kế hoạch điều động binh lực và cơ sở vật chất sẵn sàng “lót ổ” trên các hướng chiến dịch – chiến lược.
Tư tưởng chỉ đạo của Bộ Thống soái đối với cơ quan tham mưu trong việc xây dựng kế hoạch tác chiến mùa khô này trên địa bàn Đường 9 - Bắc Quảng Trị là: Trong bất kỳ tình huống nào, việc giữ vững hành lang Trung Hạ Lào phải được coi là nhiệm vụ hết sức quan trọng. Kế hoạch được xây dựng trên cơ sở dự kiến: nếu địch đánh ra Trung Hạ Lào, ngoài hỏa lực và một bộ phận (không lớn) quân trên bộ của Mỹ, địch có thể huy động hơn 20 tiểu đoàn quân đội Sài Gòn, hơn 10 tiểu đoàn quân đội tay sai Lào và khoảng 1-2 trung đoàn Thái Lan ở phía sau. Nhiệm vụ bảo vệ đường vận chuyển chiến lược, đồng thời cũng là nhiệm vụ đánh bại một bước cơ bản chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của đế quốc Mỹ, đòi hỏi kế hoạch tác chiến phải thể hiện quyết tâm giữ vững một số khu vực trên Đường 9. Yêu cầu cụ thể đặt ra là phải làm thất bại ý đồ của địch đánh chiếm Sê-pôn - Mường Phìn – Pha Lan – Keng Kọc.
Do tầm quan trọng của nhiệm vụ bảo vệ đường vận chuyển chiến lược Bắc - Nam trong mùa khô này, Bộ Thống soái giao cho Bộ Tổng tham mưu nhiệm vụ chỉ đạo chuẩn bị mọi mặt và trực tiếp điều hành chiến dịch phản công có ý nghĩa chiến lược sắp tới.
Quá trình từng bước bổ sung và thông qua kế hoạch tác chiến cũng là quá trình Tổng hành dinh chỉ đạo tổ chức và triển khai binh lực. Dự kiến không gian và quy mô chiến dịch phản công sắp tới sẽ rất rộng lớn, Bộ Thống soái chuẩn y kế hoạch của tham mưu tổ chức bộ đội chủ lực trên cấp sư đoàn. Binh đoàn 70 ra đời (gồm ba sư đoàn bộ binh thiện chiến 304, 308, 320) nói lên tầm nhìn chiến lược của Bộ Thống soái tối cao về phương hướng phát triển quy mô tác chiến ngày càng lớn trong giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Một số cán bộ trung cao cấp của Tổng hành dinh được chỉ thị chuẩn bị sẵn sàng ra tiền tuyến. 
Để sự chỉ đạo chỉ huy của Tổng hành dinh được sát với các Bộ Tư lệnh các mặt trận, mấy tháng cuối năm 1970, nhiều phái viên của Tổng hành dinh được cử vào các Bộ Tư lệnh Quân khu 4, 5 và Binh đoàn 559, vừa để truyền đạt nhận định và quyết tâm chiến lược của Bộ Thống soái, thông báo dự kiến điều động binh lực của Bộ trên địa bàn, vừa để nắm dự kiến phương hướng tác chiến của các chiến trường. Riêng các Mặt trận Khu 5 và Tây Nguyên được lệnh kịp thời phối hợp tác chiến khi địch đánh ra hành lang 559 ở Hạ Lào.
Trung tuần tháng 12 năm 1970, trước những triệu chứng địch khẩn trương chuẩn bị hoạt động trên hướng Đường 9 và Nam Khu 4, trong thông báo gửi các Bộ Tư lệnh Binh đoàn 70, Mặt trận Đông Đường 9 và Quân khu 4, Bộ Tổng tham mưu nhấn mạnh nhiệm vụ theo dõi hoạt động trinh sát đường không và vận chuyển cơ sở vật chất kỹ thuật của địch ở hướng Đông Hà và chỉ thị điều động ngay lực lượng vào chiếm lĩnh, triển khai thế trận ở Bắc Khe Sanh, xây dựng căn cứ đứng chân lâu dài sẵn sàng đánh địch bảo vệ hành lang vận chuyển trên Đường 16.
Ngày 31-1-1971, đài phát thanh nước ngoài đưa tin chừng một trung đoàn bộ binh cơ giới của Mỹ mở cuộc hành binh mang tên Dewey Canion II, càn quét phía Nam khu phi quân sự. Dựa vào tin tình báo mới nhất do cơ quan tham mưu tổng hợp, hội nghị Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương nhận định: Dewey Canion II cùng với các cuộc hành binh trước đó (Toàn thắng 1/71 đánh sang hướng Đông Bắc Cam-pu-chia, Quang Trung 4 đánh ra vùng ba biên giới) hồi trung tuần tháng 1, đều nhằm đánh lạc hướng, chuẩn bị phục vụ cho chiến dịch lớn tiến công ra Đường 9 - Nam Lào hòng cắt ngang đường vận chuyển chiến lược của ta. Trên cơ sở kế hoạch tác chiến đã dự kiến, Quân ủy Trung ương chính thức giao nhiệm vụ cho Binh đoàn 70 chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu đồng thời lệnh cho các chiến trường phía Nam tranh thủ thời cơ địch sơ hở đẩy mạnh tiến công và đánh phá bình định, tiêu diệt sinh lực địch, phối hợp với chiến trường chính.
Trong cuộc họp ngày 6-2 (nghe báo cáo tình hình và cho ý kiến về nhiệm vụ Mặt trận Đường 9 mà trọng tâm là kế hoạch phản công trên hướng Đường 9 – Nam Lào), Quân ủy Trung ương dự kiến hai khả năng: Hoặc địch có thể lui quân sau vài ba tuần đến một tháng, hoặc chúng có thể chốt lại khu vực Lao Bảo – Khe Sanh – Tà Cơn – Tam Tanh một thời gian dài để ngăn chặn kế hoạch vận chuyển mùa khô của ta. Quân ủy thảo luận và thông qua kế hoạch tác chiến ba bước do Cục Tác chiến dự thảo: 1) đánh địch hành quân vượt biên giới; 2) nếu địch co cụm hoặc rút lui, ta sẽ vây ép đi đến tiêu diệt các điểm co cụm của địch; 3) tùy tình hình, sẽ phát triển tiến công trên hai hướng tây Quảng Trị và Keng Kọc.
Do dự kiến chiến dịch phản công có thể diễn ra trên diện rộng, quy mô lớn ngoài khả năng đảm nhiệm của Binh đoàn 70, ngày 8-2, Bộ Thống soái quyết định thành lập Đảng ủy Mặt trận 702, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Quân ủy. Sau đó, Bộ trưởng Quốc phòng Võ Nguyên Giáp ký quyết định thành lập Bộ Tư lệnh Mặt trận 702 (còn gọi là Bộ Tư lệnh Mặt trận Đường 9) (3). Tổng Tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng được Bộ Thống soái cử làm đại diện Quân ủy Trung ương tại Mặt trận.
*Ngày 8-2, quân đội Sài Gòn được hỏa lực Mỹ yểm trợ vượt biên giới Việt – Lào bắt đầu cuộc hành binh mang tên Lam Sơn 719. Cùng ngày, tại cuộc họp giao ban về tình hình chiến sự Đường 9 – Nam Lào, Bí thư Quân ủy Trung ương Võ Nguyên Giáp nhắc lại nhận định trước đây của Bộ Chính trị và Nghị quyết của Quân ủy Trung ương về tình hình và nhiệm vụ quân sự năm 1971 có quan hệ trực tiếp tới cục diện chiến trường Đường 9 lúc này. Đại tướng chỉ rõ: Thực tế cuộc hành binh của địch đang chứng minh dự kiến chính xác của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương về những hành động phiêu lưu mới của Nhà trắng và Lầu năm góc. Ta đã từng phán đoán Mỹ có thể tiến quân sang Cam-pu-chia, có thể đánh vào hành lang vận chuyển chiến lược 559 và cũng có thể mở rộng chiến tranh ra Miền Bắc. Cùng với nhận định đó, từ rất sớm Tổng hành dinh đã chỉ đạo chuẩn bị chiến dịch này, nhằm tiêu diệt sinh lực và phương tiện chiến tranh của Mỹ-ngụy, bảo vệ đường chi viện tiền tuyến, chỉ đạo phối hợp giữa các chiến trường nhằm đập tan hành động phiêu lưu quân sự của đế quốc Mỹ và tay sai. Chiến dịch phản công Đường 9 – Nam Lào có ý nghĩa rất quan trọng, đòi hỏi ta phải có quyết tâm rất lớn, phải đánh thắng. Thắng lợi của chiến dịch không những ảnh hưởng quan trọng đối với chiến trường Miền Nam cả về quân sự và chính trị mà còn ảnh hưởng đến các chiến trường toàn Đông Dương, không những ảnh hưởng đối với Mỹ - ngụy ở Miền Nam mà còn tác động đến tình hình chính trị nước Mỹ và quan hệ trực tiếp đến nhiệm vụ bảo vệ Miền Bắc.
Đồng chí Bí thư Quân ủy Trung ương phân tích chỗ mạnh chỗ yếu của địch, những thuận lợi khó khăn của ta và khẳng định quyết tâm của Tổng hành dinh là kiên quyết giành thắng lợi trong chiến dịch này. Sau khi nhắc lại nhiệm vụ của các cơ quan Tổng hành dinh, của các đơn vị phía trước và của hậu phương lớn, đồng chí Võ Nguyên Giáp kết luận: Thời kỳ khẩn trương này là một dịp để chúng ta tiêu diệt địch đồng thời qua đó mà rèn luyện cơ quan, đơn vị, nâng cao chất lượng công tác và chiến đấu của toàn quân.
Trong chỉ thị đề ngày 9-2-1971 gửi bộ đội toàn Mặt trận 702 nhan đề "Kiên quyết đập tan bước phiêu lưu quân sự mới của đế quốc Mỹ và tay sai, giành thắng lợi trong chiến dịch Đường 9 – Nam Lào", Quân ủy Trung ương nhấn mạnh: Cần phải quán triệt tình hình và nhiệm vụ, ý nghĩa quan trọng và yêu cầu của chiến dịch phản công, không ngừng củng cố quyết tâm chiến đấu, góp phần làm thất bại một bước quan trọng chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" và âm mưu “dùng người Đông Dương đánh người Đông Dương” của đế quốc Mỹ. Hôm sau, trong chỉ thị bổ sung gửi các cấp chỉ huy, Quân ủy Trung ương phân tích cụ thể tình hình diễn biến mấy ngày đầu cuộc hành binh của địch và chỉ rõ: Do địch mở cuộc hành quân quy mô lớn, trên diện rộng, diễn biến có thể phức tạp, cho nên trong chỉ đạo tác chiến cần phải phát huy sức mạnh tiến công của các đơn vị, các binh chủng; nắm vững phương châm tác chiến kết hợp đánh nhỏ, đánh vừa và đánh lớn. Cụ thể là phải biết đánh nhỏ, đánh vừa, tiêu diệt rộng rãi và liên tục từng bộ phận quân địch, đồng thời phải tạo điều kiện để đánh những trận tiêu diệt từng đơn vị lớn của chúng. Có như vậy mới tranh thủ được thời gian, mới tạo được cơ hội và kịp thời nắm cơ hội giành thắng lợi lớn cho chiến dịch.
Sau một tuần theo dõi diễn biến trên chiến trường chính và các chiến trường phối hợp, ngày 14-2, Bộ Tổng tham mưu gửi điện bổ sung, chỉ đạo riêng Quân khu Trị Thiên và Bộ Tư lệnh 559 về nhiệm vụ tác chiến phối hợp trực tiếp với Mặt trận Đường 9. Sau khi nhận định, quân ta đã giành được thắng lợi bước đầu, đã tạo được thế có lợi chuẩn bị cho những trận đánh tiêu diệt lớn hơn, Bộ Tổng tham mưu chỉ rõ: Để phối hợp đắc lực với chiến trường Đường 9, ngoài việc đẩy mạnh hoạt động ở đồng bằng, giáp ranh, tác chiến bảo vệ vận chuyển, kho tàng, chủ lực của Trị Thiên cần trực tiếp tham gia tác chiến trên Đường 9. Riêng Bộ Tư lệnh 559 cần chỉ đạo bảo đảm vật chất cho Bộ Tư lệnh nhẹ của Sư đoàn 324 (của Khu 4) và Sư đoàn 2 (của Khu 5), tổ chức hiệp đồng chiến đấu với các lực lượng tại chỗ của Đoàn 559.
Từ thực tế chiến trường sau gần một tháng chiến đấu, ngày 2-3-1971, Thường vụ Quân ủy Trung ương điện bổ sung về phương hướng chỉ đạo chỉ huy sắp tới của Bộ Tư lệnh 702. Sau khi khẳng định quyết tâm nhất thiết phải giành thắng lợi trong chiến dịch quan trọng này, bức điện nhấn mạnh: Sự chỉ đạo tác chiến, việc sử dụng lực lượng, động viên chính trị cũng như các mặt công tác khác đều phải bảo đảm đánh địch và thắng địch trong một thời gian dài, càng đánh càng mạnh, càng đánh càng thắng. Sự chỉ đạo của các cấp ủy phải quán triệt phương châm nói trên, kiên quyết và vững chắc, táo bạo khi cần thiết, cơ động linh hoạt, đánh địch và thắng địch trong một thời gian tương đối dài, đồng thời sẵn sàng tiêu diệt địch trong trường hợp chúng rút sớm. Quân ủy chỉ rõ: Cuộc chiến đấu càng kéo dài trên chiến trường này thì cơ hội của ta càng lớn, ta có điều kiện tiêu diệt địch đồng thời giữ được địch trong thế phân tán và sơ hở về chiến lược, tạo điều kiện để các chiến trường nội tuyến, nông thôn cũng như thành thị, kết hợp tiến công và nổi dậy, đập tan một bước quan trọng âm mưu bình định của địch. Đó là ý nghĩa quan trọng của chiến dịch đối với cục diện chung của cuộc kháng chiến. Thường vụ Quân ủy xác định 4 nội dung thắng lợi của chiến dịch này: 1- Tiêu diệt nhiều sinh lực địch đi đôi với rèn luyện và củng cố lực lượng ta; 2- Giữ vững được tuyến vận chuyển chiến lược; 3- Hậu phương lớn Miền Bắc đủ sức mạnh đập tan mọi hành động phiêu lưu của địch; 4- Phối hợp với các chiến trường và tạo điều kiện tốt cho các chiến trường vừa tiêu diệt địch vừa đánh bại kế hoạch bình định của chúng. Sau khi chỉ rõ yêu cầu chỉ đạo tác chiến chiến dịch, về sử dụng và bố trí lực lượng, chỉ đạo công tác hậu cần, công tác chính trị trong những ngày tới, Thường vụ Quân ủy nhắc Bộ Tư lệnh 702 cần nhanh chóng rút kinh nghiệm để kịp thời phát triển cách đánh của ta cả về kỹ thuật và chiến thuật, Riêng bộ đội B5 cần kết hợp hai nhiệm vụ tiến công quân sự đi đôi với đẩy mạnh công tác phá bình định, vận động nhân dân, phát triển lực lượng mọi mặt trong địa phương.
Hôm sau, trong thông báo tình hình chiến sự Đường 9 tại hội nghị cán bộ cao cấp toàn quân, Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp nhận xét: Ngay từ đầu chiến dịch, cùng với kết quả tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực và phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh của địch (nhất là phương tiện cơ động đường không), ta đã làm thất bại nhiều thủ đoạn chiến thuật của địch, như chiến thuật vận động, đổ bộ bằng trực thăng hay chiến thuật phòng ngự từng tiểu đoàn trong công sự dã chiến …Thực tế chiến đấu đã chứng minh và khẳng định kết quả công tác huấn luyện vừa qua, nhất là đợt tập huấn cán bộ năm 1970. Trình độ tổ chức chỉ huy của cán bộ có nhiều tiến bộ, hiệu suất chiến đấu của bộ đội được nâng lên rõ rệt, là nguyên nhân khiến cho nhiều cách đánh của ta được phát triển, như đánh xe tăng ban ngày, đánh cơ giới địch vận động, tiến công căn cứ hậu cần của địch bằng pháo binh và đặc công có hiệu quả và ta thương vong ít. Tuy nhiên, quân ta còn phải cố gắng nhiều hơn nữa vì thắng lợi chưa đều khắp, có đơn vị đánh chưa tốt, có trận tiêu diệt chưa gọn.
Sau khi nói về âm mưu và sự cố gắng mới của địch trên chiến trường Đường 9 – Nam Lào, về phương hướng nhiệm vụ của bộ đội ở phía trước và của các cơ quan Tổng hành dinh, đồng chí Võ Nguyên Giáp kết luận: “Tóm lại, vừa qua ta thắng lớn nhưng mới chỉ là bước đầu. Bộ đội đang đứng trước thời cơ thuận lợi, phải cố gắng rất lớn để giành toàn thắng cho chiến dịch này…”.
Trải qua hơn 50 ngày đêm chiến đấu liên tục, chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào kết thúc thắng lợi. Cuộc hành binh Lam Sơn 719 đầy tham vọng của Mỹ-ngụy bị đánh bại hoàn toàn. Ngày 28-3, Bộ Tư lệnh 702 tổ chức hội nghị sơ kết chiến dịch. Thay mặt Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng, Tổng tham mưu trưởng đã dự và phát biểu tại hội nghị.
Sau khi nói về ý nghĩa và nguyên nhân thắng lợi của chiến dịch, đồng chí Văn Tiến Dũng phân tích từng đặc điểm và tính chất của chiến dịch Đường 9 – Nam Lào: 1- Ta chủ động từ đầu đến cuối chiến dịch; 2- Chiến dịch thể hiện khả năng đánh tiêu diệt của bộ đội khá cao; 3 - Hiệp đồng chiến đấu giữa các đơn vị, các binh chủng trong chiến dịch đạt trình độ rất cao và toàn diện; 4 - Chiến dịch mang tính chất chiến lược.
Về mặt thiếu sót của chiến dịch, Tổng Tham mưu trưởng nêu lên mấy vấn đề cụ thể về tổ chức chỉ huy ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả chiến dịch: 1 - Trong bao vây chiến dịch, ta đã để lỡ thời cơ tiêu diệt hai lữ đoàn dù và thiết giáp địch sau khi tiến công vào Bản Đông, đặc biệt là để một lực lượng nòng cốt là số sĩ quan ngụy chạy thoát; 2 - Việc nắm tình hình còn chậm, còn qua nhiều khâu trung gian; 3 - Thông tin chậm và không vững chắc, trinh sát mặt đất quá yếu. Việc mã và giải mã các bức điện quá chậm.
Từ thực tế kết quả chiến dịch, Tổng tham mưu trưởng lưu ý một vấn đề về phương hướng xây dựng lực lượng sắp tới: Quân ta đã tiêu diệt được chủ lực ngụy quy mô lớn (có không quân Mỹ chi viện tác chiến mức độ cao nhất), điều đó khẳng định việc xây dựng LLVT của ta cả về phương hướng tổ chức, trang bị, huấn luyện chiến thuật và kỹ thuật và các mặt khác đều chính xác, đúng đắn. Tuy nhiên, cũng còn những vấn đề mà các cơ quan Tổng hành dinh cần nghiên cứu, tổng kết kinh nghiệm và rút ra những kết luận để xây dựng cho phù hợp hơn nhằm nâng cao hơn nữa sức chiến đấu của bộ đội.
                                                                   ***
Thắng lợi của chiến dịch phản công Đường 9 – Nam Lào không những làm thất bại âm mưu của đế quốc Mỹ chia cắt chiến trường ba nước Đông Dương, âm mưu phá tận gốc đường vận chuyển chiến lược Bắc – Nam của ta, mà còn góp phần quyết định làm thất bại một bước nghiêm trọng chủ trương thử nghiệm công thức tiêu biểu của chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh": Bộ binh quân đội Sài Gòn + hỏa lực và hậu cần của Mỹ.
Thực tế thắng lợi của ta trong Đông – Xuân 1970-1971 cho phép khẳng định: Một trong những yếu tố quan trọng dẫn đến thắng lợi to lớn đó, nhất là thắng lợi của chiến dịch phản công làm thất bại cuộc hành binh Lam Sơn 719 của địch trên chiến trường Đường 9 - Nam Lào - là tầm nhìn chiến lược, dự kiến chính xác và tinh thần chủ động trong chỉ đạo của Bộ Thống soái. Các cơ quan Tổng hành dinh – trong đó có hệ thống tình báo chiến lược – đã tạo điều kiện để Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương phán đoán đúng, dự kiến sớm, chủ động chuẩn bị và chỉ đạo chặt chẽ, kịp thời, toàn diện trong từng bước chuẩn bị cũng như trong suốt quá trình diễn biến của chiến dịch phản công có ý nghĩa chiến lược quan trọng này.
-------------------------------------
(1) Trước đó, từ mùa hè năm 1969, Tổng hành dinh đã từng dự kiến khả năng Mỹ đánh phá trở lại Miền Bắc và không loại trừ khả năng chúng mở rộng chiến sự sang đất Cam-pu-chia và Lào... Những phán đoán trên đây của Tổng hành dinh và sau đó là của các nguồn tình báo được chứng minh trước hết bằng cuộc hành binh lớn của quân Mỹ vào khu “Lưỡi câu” (thuộc Kongpongcham) và cuộc hành binh của quân đội Sài Gòn vào khu vực “Mỏ vẹt” (thuộc tỉnh Svây-riêng) cuối tháng 4 năm 1970. Mục đích chiến lược của các cuộc hành binh này là nhằm tiêu diệt cơ quan chỉ đạo kháng chiến, phá cơ sở hậu cần của ta ở Miền Nam, cắt đứt đường vận chuyển Bắc-Nam qua đất Cam-pu-chia, làm thất bại công cuộc chuẩn bị đánh lớn của ta trên chiến trường Nam Bộ, đàn áp phong trào cách mạng của nhân dân Cam-pu-chia, xóa bỏ nền trung lập của Cam-pu-chia. Tổng hành dinh đã kịp thời chỉ đạo Bộ Tư lệnh Miền Nam phối hợp với bạn tranh thủ thời cơ mở rộng vùng giải phóng phía sau trên đất Cam-pu-chia, làm thất bại âm mưu mới của địch.
(2) Ngày 12-3, Chính phủ Cam-pu-chia đơn phương hủy bỏ hiệp định thương mại đã ký với ta và đóng cửa cảng Kongpongchom (Sihanouk-ville); ngày 13, Lon-non gửi tối hậu thư đòi lực lượng của ta phải rút hết Cam-pu-chia trong vòng 48 giờ; ngày 15, Bộ Tham mưu Cam-pu-chia yêu cầu quân đội Sài Gòn pháo kích sang các vùng chúng nghi là nơi đóng quân của ta trên đất bạn; ngày 18, Lon-non làm đảo chính lật đổ Sihanouk….
(3) Bộ Tư lệnh Mặt trận 702 gồm: Tư lệnh trưởng: Lê Trọng Tấn; Chính ủy: Lê Quang Đạo; Phó Tư lệnh: Cao Văn Khánh (đồng thời là Tư lệnh Binh đoàn 70), Phó Chính ủy: Hoàng Phương. Các lực lượng dưới quyền chỉ huy của Mặt trận 702 gồm các đơn vị thuộc Binh đoàn 70, Khu 4, Khu 5 và các đơn vị thuộc Đoàn 559 đang hoạt động trên Mặt trận Đường 9. Nhiệm vụ trực tiếp trước mắt của Mặt trận 702 là thực hành chiến dịch phản công trên toàn Mặt trận Đường 9 – Nam Lào.
------------------------
Trần Trọng Trung




Đảng giải quyết vấn đề dân tộc, xây dựng khối đoàn kết ba nước Đông Dương trong quá trình đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân


Đảng giải quyết vấn đề dân tộc, xây dựng khối đoàn kết ba nước Đông Dương trong quá trình đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân

PGS, TS. VŨ QUANG HIỂN*
Việt Nam, Lào và Campuchia là ba quốc gia - dân tộc trên bán đảo Đông Dương, núi liền núi, sông liền sông, chung dòng Mê Kông chở nặng phù sa và đều dựa vào dãy Trường Sơn hùng vĩ. Quá trình xây dựng và phát triển của ba quốc gia có đặc điểm nổi bật: nếu một quốc gia bị xâm lược, thì dù sớm hay muộn hai quốc gia còn lại cũng khó tránh khỏi sự đô hộ của ngoại bang. Bởi vậy, dù tự giác hay không tự giác, nhân dân ba nước phải cùng nhau chống kẻ thù chung, vì độc lập tự do của mỗi dân tộc.
Vấn đề dân tộc đã được Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận thức và giải quyết đúng đắn với tinh thần độc lập tự chủ và sáng tạo. Đó là cơ sở vững chắc để củng cố và tăng cường khối đoàn kết Đông Dương, khối liên minh chiến đấu giữa ba dân tộc, tạo ra một nhân tố chiến lược, đảm bảo thắng lợi của cách mạng mỗi nước.
Với tinh thần “giúp bạn là tự giúp mình”, nhân dân ba nước Việt Nam - Lào - Campuchia đã kề vai, sát cánh, cùng chiến đấu chống chủ nghĩa thực dân xâm lược, xây dựng nên một liên minh chiến đấu trong sự nghiệp giải phóng của mỗi quốc gia - dân tộc, để lại những kinh nghiệm quý cho hôm nay và mai sau.
Trong bối cảnh Liên bang Xôviết cùng các liên bang ở Tiệp Khắc, Nam Tư tan rã, nhìn lại liên minh chiến đấu và tình đoàn kết Việt Nam - Lào - Campuchia trong những chặng đường đấu tranh vì độc lập dân tộc, càng thấy rõ giá trị khoa học và thực tiễn của cách thức giải quyết vấn đề dân tộc ở Đông Dương của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh.
1. Giải quyết vấn đề dân tộc trong phạm vi từng nước ở Đông Dương trong cuộc đấu tranh giành độc lập 1930-1945
Năm 1887, trên cơ sở thôn tính và áp đặt ách thống trị dân tộc, thực dân Pháp lập ra cái gọi là “Liên bang Đông Dương” thuộc Pháp, gồm năm xứ (Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ, Lào và Cao Miên) do một viên Toàn quyền người Pháp đứng đầu, thi hành chính sách chia để trị. Bất chấp chính sách chia rẽ của kẻ thù, nhân dân ba nước cùng đoàn kết chống kẻ thù chung.
Từ năm 1924, xuất phát từ điều kiện các nước thuộc địa, nơi có mâu thuẫn giữa dân tộc bị áp bức với chủ nghĩa đế quốc xâm lược phát triển ngày càng gay gắt và trở thành mâu thuẫn chủ yếu, Nguyễn Ái Quốc nhận thấy “chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước”. Người kiến nghị về Cương lĩnh hành động của Quốc tế Cộng sản: "Phát động chủ nghĩa dân tộc bản xứ nhân danh Quốc tế Cộng sản... Khi chủ nghĩa dân tộc của họ thắng lợi... nhất định chủ nghĩa dân tộc ấy sẽ biến thành chủ nghĩa quốc tế"1.
Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, Đông Dương bị chủ nghĩa thực dân xâm lược và thống trị, sự nghiệp đấu tranh giải phóng mỗi dân tộc có liên quan mật thiết với nhau và không tách rời nhau, nhưng Người không nhìn nhận Đông Dương như một liên bang, mà thấy rõ ở Đông Dương có ba quốc gia - dân tộc. Người phân biệt hai loại vấn đề: 1- Phát huy sức mạnh mỗi dân tộc trong sự nghiệp đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, thực hiện đoàn kết mỗi dân tộc; 2- Trên cơ sở tôn trọng quyền dân tộc tự quyết, tôn trọng độc lập tự do của mỗi dân tộc, thực hiện đoàn kết ba dân tộc, giúp đỡ lẫn nhau chống kẻ thù chung.
Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (1930), tình đoàn kết Việt Nam - Lào - Campuchia củng cố và phát triển một cách có tổ chức, nhất là trong Mặt trận dân chủ Đông Dương (1936-1939), Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương (1939-1940).
Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng (11-1939) nêu rõ các dân tộc ở Đông Dương “đoàn kết thống nhất đánh đổ đế quốc Pháp đòi Đông Dương hoàn toàn độc lập và các dân tộc được quyền tự quyết”2. “Sự liên hiệp các dân tộc Đông Dương không nhất thiết bắt buộc các dân tộc phải thành lập một quốc gia duy nhất vì các dân tộc như Việt Nam, Miên, Lào xưa nay vẫn có sự độc lập. Mỗi dân tộc có quyền giải quyết vận mệnh theo ý muốn của mình, song sự tự quyết cũng không nhất định nghĩa là rời hẳn nhau ra”3.
Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng
(5-1941) do Nguyễn Ái Quốc chủ trì đã phân tích sâu sắc tình hình thế giới và Đông Dương, chủ trương giải quyết vấn đề dân tộc trong khuôn khổ từng nước ở Đông Dương, cốt làm sao để thức tỉnh tinh thần dân tộc ở các nước Đông Dương.
Hội nghị nhấn mạnh rằng, các dân tộc trên bán đảo Đông Dương đều cùng chịu ách thống trị của đế quốc Pháp - Nhật, cho nên phải "tập trung cho được lực lượng cách mạng toàn cõi Đông Dương", làm cho ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia đoàn kết, dựa vào nhau, thúc đẩy nhau giành thắng lợi.
Song, nói đến vấn đề dân tộc lúc này là nói đến sự tự do, độc lập của mỗi dân tộc. Vì thế, Đảng phải hết sức tôn trọng và thi hành đúng chính sách "dân tộc tự quyết" đối với các dân tộc ở Đông Dương. Sau khi đánh đuổi Pháp - Nhật thì "các dân tộc trên cõi Đông Dương sẽ tuỳ theo ý muốn, tổ chức thành liên bang cộng hòa dân chủ hay đứng riêng thành lập một quốc gia tùy ý". "Sự tự do độc lập của các dân tộc sẽ được thừa nhận và coi trọng".
Trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung, sự đoàn kết ba dân tộc là một yêu cầu khách quan. Hội nghị phân tích: "Những dân tộc sống ở Đông Dương đều chịu dưới ách thống trị của giặc Pháp - Nhật, cho nên muốn đánh đuổi chúng nó không chỉ dân tộc này hay dân tộc kia mà đủ, mà phải có một lực lượng thống nhất của tất thảy các dân tộc Đông Dương họp lại"4. Hội nghị quyết định thành lập ở mỗi nước một mặt trận riêng: Việt Nam độc lập đồng minh, Ai Lao độc lập đồng minh và Cao Miên độc lập đồng minh. Trên cơ sở sự ra đời mặt trận ở mỗi nước, sẽ tiến tới thành lập mặt trận chung của ba nước. Đảng và Việt Minh “phải hết sức giúp đỡ các dân tộc Miên, Lào tổ chức ra Cao Miên độc lập đồng minh, Ai Lao độc lập đồng minh để sau đó lập ra Đông Dương độc lập đồng minh"5.
Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã giải quyết vấn đề dân tộc trong phạm vi từng nước ở Đông Dương, thành lập ở mỗi nước một mặt trận riêng, đồng thời tiếp tục tăng cường đoàn kết ba dân tộc. Đó là một chủ trương đúng đắn, nhằm thực hiện quyền dân tộc tự quyết, phát huy sức mạnh mỗi dân tộc trong sự nghiệp đấu tranh tự giải phóng mình; đập tan những luận điệu xuyên tạc của kẻ thù về vấn đề dân tộc, về cái gọi là "Liên bang Đông Dương" và "hoạ cộng sản"; đồng thời tạo điều kiện đoàn kết ba dân tộc chống kẻ thù chung. Chủ trương đó đặt cơ sở để xây dựng một chính sách mới, thiết lập một quan hệ mới giữa Việt Nam với hai nước láng giềng cùng chung một kẻ thù xâm lược.
Trong bối cảnh Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, chủ nghĩa phát xít bị tiêu diệt, phát xít Nhật và tay sai ở Đông Dương hoang mang, nhân dân Việt Nam đã đứng lên khởi nghĩa, thành lập Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa (2-9-1945). Nhân dân Lào cũng khởi nghĩa thắng lợi và thành lập Chính phủ Lào Ecalạt (Chính phủ Lào Độc lập) (12-10-1945). Ngày 14-10-1945, Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa gửi điện chúc mừng, công nhận nền độc lập của Lào và thiết lập quan hệ về mặt nhà nước giữa hai quốc gia.
2. Thực hiện bình đẳng tuyệt đối giữa các nước có chủ quyền, thành lập ở mỗi nước Đông Dương một đảng riêng, tăng cường đoàn kết Việt Nam - Lào - Campuchia kháng chiến chống thực dân Pháp 1945-1954
Nhân dân Việt Nam và nhân dân Lào giành được nền độc lập chưa được bao lâu thì thực dân Pháp trở lại xâm lược Đông Dương. Nhân dân ba nước Đông Dương lại phải tiếp tục đứng lên kháng chiến. Giúp đỡ cách mạng Lào, cũng như cách mạng Campuchia là chính sách nhất quán của Đảng và Hồ Chí Minh, coi giúp bạn là tự giúp mình, trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền của nhau.
Trong Lời kêu gọi Liên hợp quốc (12-1946) Hồ Chí Minh khẳng định: "Đối với Lào và Miên, nước Việt Nam tôn trọng nền độc lập của hai nước đó và bày tỏ lòng mong muốn hợp tác trên cơ sở bình đẳng tuyệt đối giữa các nước có chủ quyền"6.
Tháng 11-1946, Chủ tịch Quân uỷ hội Võ Nguyên Giáp gửi chỉ thị cho các cơ sở kháng chiến Việt Nam ở Đông Nam Á nêu rõ chiến tranh có thể nổ ra trong toàn quốc, yêu cầu Việt kiều phối hợp với các lực lượng yêu nước của bạn mở mặt trận Lào, Miên để đế quốc Pháp không có một mảnh đất an toàn nào ở Đông Dương. Ngày 12-12-1946, trong Chỉ thị Toàn dân kháng chiến, Trung ương Đảng chủ trương đoàn kết ba dân tộc Việt Nam, Lào và Campuchia7.
Xác định nghĩa vụ quốc tế của Việt Nam đối với các dân tộc Lào và Campuchia, trong tác phẩm Kháng chiến nhất định thắng lợi, Tổng Bí thư Trường Chinh chỉ rõ: "phải giúp đỡ các dân tộc Đông Dương về vật chất cũng như về tinh thần để chóng đè bẹp bọn thực dân phản động Pháp, kẻ phá hoại hoà bình và dân chủ trên thế giới"8.
Tháng 7-1947, khi trả lời một nhà báo nước ngoài, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Chính sách đối ngoại là thân thiện với tất cả các láng giềng... Cao Mên, Ai Lao, v.v., mà không thù gì với nước nào”9.
Đầu năm 1948, Trung ương Đảng phân công đồng chí
Võ Nguyên Giáp chỉ đạo công tác giúp cách mạng Lào và theo dõi giúp cách mạng Campuchia. Tháng 3-1948, Bộ Tổng chỉ huy ra Chỉ thị Về phương châm, phương hướng hoạt động trên các mặt trận Lào, Miên, nhấn mạnh công tác cần thiết trước nhất là giúp các lực lượng kháng chiến của hai nước bạn xây dựng cơ sở chính trị; coi trọng việc bảo tồn lực lượng; cử cán bộ chính trị hoặc vũ trang tuyên truyền hoạt động sâu trong vùng địch tạm chiếm; nơi nào có điều kiện thì thành lập căn cứ địa hoặc khu giải phóng10.
Ngày 15-2-1949, Trung ương Đảng triệu tập hội nghị cán bộ về công tác đoàn kết giúp đỡ phong trào kháng chiến Lào và Campuchia; nghiên cứu xây dựng đường lối, tư tưởng và quan điểm của đoàn kết, liên minh Việt - Miên - Lào. Hội nghị đề ra bốn phương châm:
1- Không đứng trên lợi ích Việt Nam mà làm công tác Lào - Miên.
2- Nắm chắc nguyên tắc dân tộc tự quyết, phải do Lào, Miên tự quyết định lấy.
3- Không đem chủ trương, chính sách, nguyên tắc của Việt Nam ứng dụng vào Lào, Miên như lắp máy.
4- Cần giúp đỡ Lào, Miên để bạn tự làm lấy11.
Một trong những yêu cầu quan trọng để phát triển phong trào cách mạng ở Việt Nam, Lào và Campuchia là phải tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng. Trong khi Đảng còn phải hoạt động bí mật và chưa có điều kiện thành lập ở mỗi nước một đảng riêng, Đảng Cộng sản Đông Dương có trách nhiệm lãnh đạo phối hợp cuộc kháng chiến của ba dân tộc.
Bản Báo cáo Tình hình và nhiệm vụ mới của Đảng tại Hội nghị cán bộ Trung ương lần thứ năm (8-1948) nhận định: "cơ sở đảng ở Lào, Miên gần như chưa có gì trong khi phong trào giải phóng Lào, Miên đang lên cao"12. Vì thế "phải tìm tòi thu hút những phần tử hăng hái trong hai dân tộc Miên, Lào... và đào tạo họ thành những cán bộ cốt cán cho công tác vận động Lào, Miên. Gây cho được cơ sở đảng trong dân chúng Miên, Lào. Phải chú trọng nhất các đoàn thể cấp tiến, các phần tử thanh niên trí thức và bộ đội Lào độc lập"13. "Ở Lào và Miên phải đi đến lập ra các ban xứ uỷ, nhưng trong khi cơ sở còn kém, cán bộ thiếu thì lập ra một Ban Cán sự cho mỗi xứ"14.
Những năm 1947-1948, các đơn vị Quân tình nguyện Việt Nam lần lượt được cử sang hoạt động ở Lào, cùng với bộ đội Ítxala dưới sự lãnh đạo của Chính phủ kháng chiến Lào.
Giữa tháng 2-1949, Ban Chấp hành Trung ương Đảng mở Hội nghị cán bộ Lào - Miên, xác định nhiệm vụ cần kíp của cách mạng Lào, Miên trước mắt là xây dựng căn cứ địa, tổ chức quần chúng, xây dựng lực lượng vũ trang, xây dựng chính quyền ở căn cứ địa. Thực hiện chủ trương này, ngày 26-2-1949, Liên khu uỷ Liên khu IV quyết nghị về công tác giúp bạn ở Trung Lào, hướng chính là đường số 9; xây dựng căn cứ địa, đẩy mạnh công tác vũ trang tuyên truyền; thi hành “đại đội độc lập”, giúp bạn phát triển dân quân, lấy bản làm cơ sở, xây dựng bộ đội địa phương, lấy huyện làm cơ sở; đào tạo cán bộ người Lào. Đại hội Đảng bộ Liên khu lần thứ II (7-1949) chủ trương mở rộng mặt trận Đông Lào. Ngày 1-8-1949, Liên khu uỷ quyết định thành lập Ban Cán sự Trung Lào.
Trong bối cảnh cuộc kháng chiến những năm 1946-1950, quan hệ với thế giới bên ngoài gặp nhiều khó khăn, nhưng nhờ có quan hệ Việt Nam - Lào, Việt Nam đã thiết lập được đường liên lạc Việt - Thái (từ Khu IV qua Trung Lào sang Thái Lan), đặt được cơ quan đại diện ở Băng Cốc, liên hệ được với các chính phủ và cơ quan đại diện nước ngoài.
Tháng 2-1951, Đại hội lần thứ II của Đảng quyết định thành lập ở mỗi nước Đông Dương một đảng riêng để đề ra đường lối chính trị phù hợp với tình hình của mỗi nước.
Chính cương Đảng Lao động Việt Nam được Đại hội thông qua, nêu rõ: "Dân tộc Việt Nam đoàn kết chặt chẽ với hai dân tộc Miên, Lào và hết sức giúp đỡ hai dân tộc ấy cùng nhau kháng chiến chống đế quốc xâm lược, giải phóng cho tất cả các dân tộc Đông Dương.
Nhân dân Việt Nam đứng trên lập trường lợi ích chung mà hợp tác lâu dài với hai dân tộc Miên, Lào trong kháng chiến và sau kháng chiến..."15.
Tuyên ngôn của Đảng Lao động Việt Nam khẳng định: “Đảng Lao động Việt Nam chủ trương dân tộc Việt Nam đoàn kết chặt chẽ và giúp đỡ hai dân tộc Miên, Lào kháng chiến giành độc lập, cùng Việt Nam hoàn toàn giải phóng Đông Dương”16.
Trong báo cáo Hoàn thành giải phóng dân tộc, phát triển dân chủ nhân dân, tiến tới chủ nghĩa xã hội, Tổng Bí thư Trường Chinh phân tích: “Cách mạng Việt Nam quan hệ mật thiết với cách mạng Miên và cách mạng Lào”. “Từ năm 1930, trong hoàn cảnh Đông Dương thuộc địa, ba dân tộc Việt - Miên - Lào phát triển, ba dân tộc đã lớn lên thành ba quốc gia riêng biệt. Nhiệm vụ cách mạng của ba dân tộc vẫn là chống đế quốc, song cũng có điểm khác nhau”. “Ba dân tộc đang gắn bó với nhau một cách mật thiết đặng chống kẻ thù chung là thực dân Pháp xâm lược và bọn can thiệp Mỹ”. “Đấu tranh trường kỳ, ba dân tộc phải hợp tác trường kỳ. Hợp tác ngày nay để giành độc lập và thống nhất thật sự, hợp tác lâu dài sau kháng chiến để cùng tiến trên con đường dân chủ nhân dân”.
“Muốn làm trọn những nhiệm vụ trên, phải sửa chữa và ngăn ngừa những tư tưởng sai lầm làm hại đến sự đoàn kết của ba dân tộc anh em.
Đánh đổ tư tưởng bản vị của một số cán bộ Việt Nam định dùng cách mạng Miên và Lào để phụng sự cách mạng Việt Nam hoặc chỉ lo cho cách mạng Việt Nam mà không chú trọng giúp đỡ cách mạng Miên và Lào. Làm cho một số người Miên và người Lào ỷ lại vào sự giúp đỡ của Việt Nam hoặc ngờ vực sự thành thật giúp đỡ của dân tộc Việt Nam.
Chống lại thành kiến dân tộc hẹp hòi, chống lại mưu mô chia rẽ dân tộc của thực dân Pháp và bọn can thiệp Mỹ, vượt lên trên mọi khó khăn trở ngại, ba dân tộc Việt - Miên - Lào nhất định sẽ toàn thắng trong cuộc kháng chiến này"17.
Hội nghị lần thứ ba của Ban Chấp hành Trung ương Đảng phân tích: “Vì mối quan hệ khăng khít về địa lý, quân sự, chính trị, v.v. mà ta với Miên, Lào cũng như môi với răng. Hai dân tộc Miên, Lào hoàn toàn giải phóng, thì cuộc giải phóng của ta mới chắc chắn, hoàn toàn. Cho nên nhiệm vụ của ta là phải ra sức giúp đỡ kháng chiến Miên, Lào một cách tích cực thiết thực hơn"18.
Ngày 11-3-1951, Hội nghị nhân dân ba nước Đông Dương họp tại Việt Bắc, gồm đại biểu các Mặt trận Liên Việt, Ítxala và Ítxarắc, tuyên bố thành lập khối liên minh chiến đấu Việt Nam - Lào - Campuchia dựa trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, tương trợ và tôn trọng chủ quyền của nhau, nhằm mục tiêu đánh đuổi bọn xâm lược Pháp và can thiệp Mỹ, làm cho mỗi nước hoàn toàn độc lập. Thành công của Hội nghị đã góp phần tăng cường khối đoàn kết Đông Dương, khối liên minh chiến đấu giữa ba dân tộc trong cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược.
Sự giúp đỡ lẫn nhau và sự phối hợp chiến đấu giữa ba dân tộc chống kẻ thù chung được nâng lên tầm cao mới. Tháng 9-1952, Hội nghị liên minh ba nước Đông Dương họp bàn triển khai chương trình hành động cụ thể của Mặt trận. Tại Hội nghị, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói:nhân dân Việt Nam hết lòng thành thật giúp đỡ nhân dân Lào, nhân dân Campuchia một cách vô điều kiện.
Đầu tháng 4-1953, Trung ương Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng với Chính phủ kháng chiến Lào và Mặt trận Ítxala quyết định mở chiến dịch Thượng Lào. Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn bộ đội Việt Nam: “giúp nhân dân nước bạn tức là mình tự giúp mình”19, phải nêu cao tinh thần quốc tế, tôn trọng chủ quyền, phong tục tập quán, kính yêu nhân dân nước bạn.
Trong Đông Xuân 1953-1954, Quân tình nguyện Việt Nam phối hợp với Quân giải phóng Lào liên tiếp tiến công địch ở nhiều nơi, góp phần làm thất bại kế hoạch quân sự Nava.
Trước khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ sáu (7-1954). Tổng Bí thư Trường Chinh khẳng định: “Lào và Cao Miên là hai nước láng giềng anh em của ta. Chính sách của ta đối với nhân dân Lào và Cao Miên là đoàn kết và giúp đỡ”20. Ta cần “đoàn kết với nhân dân Lào, Khơme, đấu tranh đòi lập lại hòa bình trên toàn cõi Đông Dương trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và lãnh thổ toàn vẹn của ba dân tộc”21.
Hiệp định Giơnevơ cùng với chiến thắng Điện Biên Phủ đã kết thúc cuộc kháng chiến lâu dài và anh dũng của ba dân tộc trên bán đảo Đông Dương. Đó cũng là thắng lợi của tình đoàn kết và liên minh chiến đấu Việt - Lào theo nguyên tắc giữ vững quyền dân tộc tự quyết, bình đẳng, tương trợ, hợp tác, tôn trọng độc lập, chủ quyền, nguyện vọng và lợi ích chính đáng của nhau trong quá trình đấu tranh vì độc lập dân tộc của mỗi nước. Những thắng lợi của cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam là kết quả của việc thực hiện chính sách đoàn kết và giúp đỡ của Đảng đối với cách mạng Lào và Campuchia, với tinh thần giúp bạn là tự giúp mình.
Cuộc kháng chiến của ba dân tộc đã buộc chủ nghĩa đế quốc phải ký Hiệp định Giơnevơ năm 1954 về Đông Dương, công nhận các quyền dân tộc cơ bản của Việt Nam, Lào và Campuchia là: độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Tuy nhiên, tình hình mỗi nước sau Hiệp định Giơnevơ có những thay đổi khác nhau. Do tương quan lực lượng thực tế trên chiến trường và quan hệ quốc tế phức tạp lúc bấy giờ, mặc dù tại Hội nghị, phái đoàn Việt Nam kiên quyết đấu tranh vì quyền lợi chung của cả ba dân tộc, nhưng thành quả cách mạng mỗi nước giành được còn hạn chế. Việt Nam giải phóng hoàn toàn miền Bắc, có điều kiện thiết lập quan hệ với các lực lượng cách mạng và tiến bộ trên thế giới. Lực lượng kháng chiến Lào có một vùng tập kết gồm hai tỉnh Sầm Nưa và Phongxalỳ. Trong khi các lực lượng cách mạng Việt Nam và Lào được thừa nhận như những thực thể chính trị tồn tại độc lập, thì lực lượng kháng chiến Campuchia không được thừa nhận và phải phục viên tại chỗ, làm cho quan hệ giữa Đảng Lao động Việt Nam và Đảng Nhân dân cách mạng Campuchia có những bất đồng.
3. Tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của hai nước bạn, lấy đại cục làm trọng, củng cố và tăng cường đoàn kết, liên minh chiến đấu Việt Nam - Lào, chống đế quốc Mỹ xâm lược 1954-1975
Thực hiện chiến lược “lấp chỗ trống”, Mỹ nhảy vào thay chân Pháp ở Đông Dương. Trước đây các chính phủ vương quốc Lào và Campuchia ít nhiều đều dựa vào Pháp để bảo vệ sự tồn tại và an ninh của mình, nay Pháp rút đi, hai chính quyền này đứng trước sự thôn tính của đế quốc Mỹ. Mỹ nhiều lần kêu gọi Lào và Campuchia gia nhập cái gọi là "Khối phòng thủ Đông Nam Á" và "Khối phòng ngự sông Cửu Long" nhằm cô lập và xâm lược Việt Nam, chia rẽ khối đoàn kết ba dân tộc.
Nhân dân ba nước Đông Dương đứng trước một kẻ thù mới: Mỹ, đế quốc có tiềm lực kinh tế và quân sự mạnh nhất thế giới, có chiến lược toàn cầu phản cách mạng. Mỹ coi Đông Dương là một chiến trường, “một đơn vị chiến lược”; áp dụng nhiều chiến lược chiến tranh khác nhau vào những giai đoạn thích hợp; trực tiếp đổ quân vào Việt Nam, can thiệp quân sự vào Lào và Campuchia; lợi dụng những điểm khác biệt về dân tộc, tôn giáo, những quan hệ lịch sử cũ để chia rẽ, cô lập từng nước; dùng lãnh thổ nước này làm bàn đạp để uy hiếp và xâm lược nước khác. Một lần nữa, nhân dân ba nước Việt - Lào - Campuchia chung một kẻ thù xâm lược.
Xuất phát từ tương quan lực lượng và hoàn cảnh lịch sử mới, Đảng Lao động Việt Nam và Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà chủ trương thừa nhận Chính phủ Vương quốc Lào và Chính phủ Vương quốc Campuchia, đoàn kết nhân dân ba nước chống chủ nghĩa thực dân mới.
Trong những năm đầu sau khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết, trên cơ sở nhận thức rõ tình hình thực tế ở Lào và Campuchia, thấy rõ vai trò của hai quốc gia trong việc bảo vệ nền an ninh ở Đông Dương nói riêng và Đông Nam Á nói chung, lấy lợi ích của nhân dân ba nước làm trọng, ngày 1-1-1955, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố: Việt Nam dân chủ cộng hoà sẵn sàng lập quan hệ hữu hảo với Vương quốc Lào và Vương quốc Campuchia. Đây là một tín hiệu quan trọng, đặt cơ sở cho việc xây dựng tình đoàn kết và sự liên minh phù hợp với điều kiện lịch sử mới.
Việt Nam công khai ủng hộ chính sách hoà bình, trung lập, hoà hợp dân tộc của Chính phủ Lào do Thủ tướng Phuma đứng đầu, giúp Pathét Lào xây dựng lực lượng để đối trọng với phái cực hữu, tạo cơ sở để nhân dân Lào chống lại sự can thiệp ngày càng sâu của đế quốc Mỹ.
Đáp lại chính sách ngoại giao thân thiện của Việt Nam, tháng 8-1958, Thủ tướng Phuma sang thăm Việt Nam, khẳng định mối quan hệ Việt - Lào trong thời kỳ chống xâm lược Mỹ.
Việt Nam cử cán bộ giúp đỡ Đảng Nhân dân cách mạng Campuchia chuyển phương thức hoạt động và phát triển lực lượng, tiếp nhận cán bộ sang Việt Nam học tập, phối hợp với bộ phận chỉ đạo của đảng bạn trên đất Việt Nam. Đảng Nhân dân cách mạng Campuchia cử đại diện thường trực bên cạnh Trung ương Cục miền Nam. Mặc dù vậy, Đảng Nhân dân cách mạng Campuchia chưa có sự nhất trí với đường lối chiến lược của Đảng Lao động Việt Nam, nên sự phối hợp giữa hai đảng chưa đạt kết quả mong muốn. Xuất phát từ lợi ích của hai dân tộc, Chính phủ Việt Nam ủng hộ chính sách hoà bình, trung lập và nền độc lập của Vương quốc Campuchia trên cơ sở Hiệp định Giơnevơ và 10 nguyên tắc Băngđung về cùng tồn tại hoà bình; ủng hộ Chính phủ Campuchia thiết lập quan hệ ngoại giao với Liên Xô và Trung Quốc.
Ngày 28-1-1959, Quốc vương Campuchia - Nôrôđôm Xihanúc tuyên bố: "là bạn của nhân dân Việt Nam, tôi mong rằng việc thống nhất Việt Nam sẽ được thực hiện theo tinh thần Hiệp định Giơnevơ bằng tổng tuyển cử tự do, dưới sự kiểm soát của Uỷ ban quốc tế"22. Trong bối cảnh Campuchia đã rút khỏi khối Liên hiệp Pháp và bắt đầu nhận viện trợ của Mỹ, diễn biến ở miền Nam Việt Nam và Lào đang hết sức phức tạp thì tuyên bố trên của Quốc vương Xihanúc có ý nghĩa rất tích cực, thúc đẩy sự hình thành một liên minh mới giữa ba nước Đông Dương.
Trong giai đoạn 1961-1965, Mỹ thực hiện chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" ở Việt Nam, đồng thời can thiệp và phá hoại sự ổn định của Vương quốc Lào, cùng với phái cực hữu phá hoại Hiệp định Giơnevơ về vấn đề Đông Dương, tấn công vùng giải phóng của Pathét Lào, làm đảo chính lật đổ chính quyền hợp pháp của nhân dân Lào. Mặt khác, Mỹ cũng muốn thông qua viện trợ để can thiệp vào Campuchia. Vấn đề đoàn kết Đông Dương, củng cố khối liên minh chiến đấu ba nước Việt Nam - Lào - Campuchia lại càng trở nên cần thiết.
Trước việc Mỹ tăng cường chiến tranh ở Lào, Chính phủ Việt Nam ra tuyên bố ủng hộ nền độc lập, trung lập, hoà hợp dân tộc của Vương quốc Lào. Quân tình nguyện Việt Nam cùng với lực lượng Pathét Lào mở các chiến dịch quân sự: Cánh đồng Chum (1961), Nậm Thà (1962), Đường 8, Đường 12 (1963)... đập tan âm mưu can thiệp quân sự của Mỹ. Mặt khác, Việt Nam hết sức ủng hộ và thúc đẩy việc triệu tập Hội nghị Giơnevơ về Lào (1962); yêu cầu các nước hữu quan tôn trọng nền độc lập, hoà bình, trung lập, thành lập chính phủ hoà hợp dân tộc của Lào. Đáp lại sự ủng hộ của Việt Nam, tháng 3-1963, vua Lào Xri Xavang Vátthana sang thăm Việt Nam và được nhân dân Việt Nam đón tiếp nồng hậu. Sự kiện này đánh dấu sự phát triển của mối quan hệ giữa hai dân tộc Việt - Lào trong thời kỳ chống Mỹ.
Với Campuchia, Việt Nam vẫn kiên trì ủng hộ đường lối hoà bình, trung lập, không liên kết, chống can thiệp bên ngoài, xâm phạm chủ quyền quốc gia của Vương quốc Campuchia.
Năm 1963, khi Mỹ và chế độ Sài Gòn bị thất bại trong chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” ở miền Nam Việt Nam, có nhiều hành động xâm phạm chủ quyền lãnh thổ Campuchia, Chính phủ Xihanúc quyết định cắt đứt quan hệ với chính quyền Sài Gòn (8-1963). Tháng 4-1964, Chính phủ Vương quốc Campuchia đưa ra yêu cầu triệu tập một hội nghị quốc tế để công nhận nền độc lập, hoà bình, trung lập của mình trên cơ sở đường biên giới hiện tại. Việt Nam dân chủ cộng hoà là quốc gia đầu tiên ủng hộ đề nghị này. Tháng 5-1965, Chính phủ Xihanúc chấm dứt quan hệ mọi mặt với Mỹ. Từ đó, mối quan hệ liên minh chống Mỹ giữa Campuchia với Việt Nam, Lào và các nước xã hội chủ nghĩa khác có điều kiện phát triển. Chính phủ Vương quốc Campuchia đã đoàn kết và giúp đỡ Việt Nam, cho Việt Nam mượn đường quá cảnh chi viện cho chiến trường miền Nam, làm thất bại âm mưu cô lập cách mạng miền Nam của đế quốc Mỹ.
Từ năm 1965, Mỹ tiến hành chiến lược “Chiến tranh cục bộ” ở miền Nam, phát động chiến tranh phá hoại miền Bắc Việt Nam, tiến hành “Chiến tranh đặc biệt” ở Lào, đồng thời xâm phạm biên giới và uy hiếp nền độc lập, trung lập của Campuchia. Đây là một thử thách nghiêm trọng đối với nhân dân ba nước.
Tháng 3-1965, Hội nghị nhân dân Đông Dương được triệu tập tại Phnôm Pênh theo sáng kiến của Quốc trưởng Vương quốc Campuchia Nôrôđôm Xihanúc. Quốc trưởng đã kịch liệt lên án những hành động khiêu khích mới và hết sức nghiêm trọng của đế quốc Mỹ đối với nước Việt Nam dân chủ cộng hoà và nhấn mạnh sự cần thiết phải tăng cường đoàn kết hơn nữa giữa các nước Đông Dương trước hành động mở rộng chiến tranh của đế quốc Mỹ. Quan điểm đó được Hội nghị tán thành. Thành công của Hội nghị phản ánh nguyện vọng và quyết tâm đoàn kết chiến đấu của nhân dân ba nước, “đánh dấu một bước tiến lớn trong sự nghiệp đoàn kết chiến đấu của nhân dân Việt Nam, Campuchia và Lào, chống kẻ thù chung là đế quốc Mỹ xâm lược”23.
Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi điện mừng tới Hội nghị, khẳng định nhân dân Việt Nam và Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà triệt để ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân và Chính phủ Campuchia để bảo vệ chủ quyền, độc lập, trung lập và toàn vẹn lãnh thổ Vương quốc Campuchia. Người nhấn mạnh: Sự nghiệp đấu tranh chung của nhân dân ba nước Việt Nam, Campuchia và Lào đoàn kết chặt chẽ nhất định sẽ giành được thắng lợi cuối cùng.
Mối quan hệ giữa Việt Nam và Lào được đẩy mạnh, vượt qua được trở ngại do phái cực hữu ở Lào gây ra. Quân và dân Việt - Lào phối hợp chiến đấu ngày càng chặt chẽ và giành nhiều thắng lợi. Nhưng quan hệ giữa Đảng Nhân dân cách mạng Campuchia với Đảng Lao động Việt Nam có diễn biến phức tạp. Đảng Nhân dân cách mạng Campuchia rút đại diện bên cạnh Trung ương Cục miền Nam về nước (1966) và chủ trương làm cách mạng vô sản, đánh đổ Chính phủ Vương quốc Campuchia (1967). Mặc dù có nhiều trở ngại, nhưng lấy đại cục làm trọng, Việt Nam vẫn kiên trì thuyết phục đảng bạn hướng vào sự nghiệp cao cả của nhân dân hai nước: tập trung vào cuộc đấu tranh vì độc lập của mỗi quốc gia - dân tộc.
Ngày 8-6-1967, Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tuyên bố công nhận chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Campuchia theo đường biên giới hiện tại. Đáp lại, ngày 15-6-1967, Chính phủ Campuchia công nhận Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam là đại diện chân chính duy nhất của nhân dân miền Nam.
Từ năm 1969, cùng với việc thực hiện chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh”, Mỹ đã tiến hành “Chiến tranh đặc biệt” tăng cường ở Lào, sử dụng lực lượng Lonnon tiến hành đảo chính quân sự, lật đổ Chính phủ Xihanúc ở Campuchia (3-1970), chính thức đưa Campuchia vào quỹ đạo chiến tranh thực dân mới của Mỹ ở Đông Dương. Nhằm cắt đứt đường chi viện từ miền Bắc vào miền Nam Việt Nam, bằng thủ đoạn dùng người Đông Dương đánh người Đông Dương, Mỹ sử dụng quân đội Sài Gòn tiến công xâm lược Campuchia và Lào. Đông Dương thực sự trở thành một chiến trường. Liên minh chiến đấu, hỗ trợ lẫn nhau trở thành yêu cầu cấp thiết của cả ba dân tộc.
Ngày 24 và 25-4-1970, Hội nghị cấp cao ba nước Đông Dương họp tại Hà Nội. Bản Tuyên bố chung của Hội nghị là một cương lĩnh đấu tranh, một hiến chương về tình đoàn kết chiến đấu và liên minh giữa ba dân tộc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ xâm lược vì độc lập, tự do của mỗi dân tộc Đông Dương. Bản Tuyên bố chung vạch rõ: "Các bên Campuchia, Lào, Việt Nam khẳng định mục tiêu chiến đấu của mình là độc lập, hoà bình, trung lập, không cho phép nước ngoài có quân đội hay căn cứ quân sự trên đất nước mình, không tham gia liên minh quân sự, không cho phép nước ngoài dùng lãnh thổ mình để đi xâm lược nước khác. Về quan hệ ba nước, việc giải phóng và bảo vệ đất nước là sự nghiệp của nhân dân mỗi nước, các bên cam kết hết lòng ủng hộ lẫn nhau; các bên tuyên bố quyết tâm bảo vệ và phát triển tình hữu nghị anh em và quan hệ láng giềng tốt đẹp giữa ba nước, trước mắt ủng hộ lẫn nhau chống kẻ thù chung và sau này hợp tác lâu dài trong việc xây dựng đất nước theo con đường riêng của mỗi nước"24.
Thành công của Hội nghị gây tiếng vang trên thế giới, đánh dấu bước phát triển về chất của liên minh chiến đấu Việt - Lào - Campuchia.
Cùng với việc tăng cường Quân tình nguyện giúp đỡ cuộc kháng chiến của nhân dân Lào, phối hợp chặt chẽ với Đảng Nhân dân cách mạng Lào, Việt Nam ra sức giúp đỡ Campuchia. Lãnh đạo Đảng Lao động Việt Nam chủ động hội đàm với lãnh đạo Đảng Cộng sản Campuchia nhằm khắc phục những nhận thức chưa đúng của bạn, đi đến thống nhất hành động. Đảng Cộng sản Campuchia cử cơ quan đại diện bên cạnh Trung ương Cục miền Nam và đại diện bên cạnh Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam tại Hà Nội. Cùng với việc tăng cường Quân tình nguyện giúp đỡ cuộc kháng chiến của nhân dân Lào, phối hợp chặt chẽ với Đảng Nhân dân cách mạng Lào, Việt Nam ra sức giúp đỡ Campuchia phát triển lực lượng vũ trang và chủ động phối hợp chiến đấu.
Quân và dân ba nước Việt Nam - Lào - Campuchia đã đoàn kết chặt chẽ và anh dũng chiến đấu, giành được nhiều thắng lợi to lớn. Quân tình nguyện Việt Nam phối hợp chặt chẽ với Quân giải phóng Lào nhiều lần giải phóng Cánh đồng Chum - Xiêng Khoảng (1969, 1970, 1972), đập tan cuộc hành quân Lam Sơn - 719 của Mỹ và quân đội Sài Gòn ra vùng Đường 9 - Nam Lào (1971)... Trong năm 1970, liên quân Việt Nam - Campuchia đẩy mạnh các hoạt động quân sự, làm tan rã hàng vạn quân của chính quyền Lonon, mở rộng vùng căn cứ cách mạng của Campuchia từ phía bắc tỉnh Ratanakiri đến phía nam tỉnh Kampốt, đập tan cuộc tiến công của 10 vạn quân địch sang Campuchia (4-1970), rồi tiếp tục làm thất bại các cuộc hành quân Chenla 1 (6-1970), Toàn thắng, Chenla 2 (1971)...
Sau khi Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết (27-1-1973), Việt Nam đã chủ động phối hợp với Lào đấu tranh, buộc Mỹ và chính quyền tay sai phải ký Hiệp định Viêng Chăn, cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Lào, lập lại hòa bình và thực hiện hoà hợp dân tộc ở Lào (21-2-1973); đồng thời tiếp tục giúp đỡ Campuchia đấu tranh vũ trang. Quân dân Campuchia phối hợp với chiến trường miền Nam Việt Nam, mở cuộc tổng công kích, hoàn thành sự nghiệp chống Mỹ, giải phóng Thủ đô Phnôm Pênh (17-4-1975).
Quân và dân Việt Nam luôn nhận được sự giúp đỡ tận tình của nhân dân Lào và Campuchia trong công tác đảm bảo giao thông vận tải, chi viện kịp thời cho chiến trường miền Nam, góp phần vào thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, với đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Thắng lợi đó cổ vũ mạnh mẽ và tạo điều kiện cho quân và dân Lào liên tiếp nổi dậy, giành chính quyền trong cả nước và thành lập nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào (2-12-1975).
Đường Hồ Chí Minh, con đường huyền thoại, là sản phẩm của liên minh chiến đấu Việt Nam - Lào - Campuchia, là biểu tượng cao đẹp của tình đoàn kết giữa ba dân tộc trong cuộc chiến đấu trên một chiến trường. Đó không chỉ là tuyến chi viện chiến lược quan trọng nhất từ hậu phương miền Bắc vào tiền tuyến miền Nam Việt Nam, mà còn là một căn cứ kháng chiến với một hệ thống kho tàng và hệ thống đường huyết mạch nối liền các chiến trường ở cả ba nước Đông Dương.
4. Khối đoàn kết Đông Dương là một trong những nhân tố chiến lược đảm bảo thắng lợi của mỗi dân tộc trong cuộc đấu tranh vì độc lập tự do
Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng Lao động Việt Nam (12-1976) đánh giá: "Thắng lợi của chúng ta cũng là thắng lợi của tình đoàn kết chiến đấu không gì lay chuyển nổi của nhân dân ba nước Việt Nam, Lào và Campuchia, của mối quan hệ đặc biệt đã có từ lâu trong lịch sử và được thử thách trong ngọn lửa cách mạng chống kẻ thù chung của ba dân tộc"25.
Trong quá trình xây dựng và củng cố liên minh chiến đấu đó, Đảng, Chính phủ và nhân dân Việt Nam luôn làm hết sức mình với tình cảm trong sáng, thuỷ chung, tôn trọng quyền bình đẳng giữa các quốc gia - dân tộc, tạo ra niềm tin và sự đoàn kết, gắn bó, chống lại có hiệu quả mọi sự chia rẽ của kẻ thù. Việt Nam luôn tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của hai nước bạn, lấy đại cục làm trọng, xuất phát từ lợi ích của cách mạng Việt Nam, đồng thời cũng xuất phát từ lợi ích chung của nhân dân ba nước.
Đồng chí Cayxỏn Phômvihản đánh giá: "Trong suốt quá trình giúp đỡ, với tinh thần tôn trọng độc lập, chủ quyền của Lào một cách nghiêm túc, với sự hiểu biết, cảm thông sâu sắc và sự gắn bó với cách mạng Lào, các đồng chí Việt Nam đã luôn suy nghĩ tìm tòi phương pháp tốt nhất, có hiệu lực nhất để giúp đỡ cách mạng Lào... Các đồng chí chiến sĩ quốc tế đặc biệt Việt Nam chấp hành chỉ thị của Đảng Cộng sản Việt Nam và Hồ Chủ tịch đã nêu cao tinh thần quốc tế vô sản trong sáng, yêu nhân dân Lào như bố mẹ, anh em ruột thịt của mình, đã đồng cam, cộng khổ, "hạt gạo cắn đôi, cọng rau bẻ nửa" kề vai sát cánh chiến đấu sống chết bên nhau với quân đội và nhân dân chúng tôi trong từng chiến hào, trên khắp chiến trường trong cả nước với tinh thần anh dũng tuyệt vời.
Có thể khẳng định rằng trong mọi sự thành công của cách mạng Lào, đều có sự đóng góp trực tiếp của cách mạng Việt Nam. Trên mỗi chiến trường của Tổ quốc thân yêu của chúng tôi đều có xương máu của các chiến sĩ quốc tế Việt Nam hoà lẫn với xương máu của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân các bộ tộc Lào chúng tôi.
Trong lịch sử cách mạng thế giới cũng có nhiều tấm gương sáng chói về tinh thần quốc tế vô sản nhưng chưa ở đâu và chưa bao giờ có sự đoàn kết, liên minh chiến đấu đặc biệt, lâu dài và toàn diện như vậy”, “các đồng chí Việt Nam luôn “nhận khó khăn về mình, giành thuận lợi cho chúng tôi””26.
Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân cách mạng Campuchia Hêng Xomrin nói: "Đối với toàn Đảng, toàn dân chúng tôi, hai chữ "Việt Nam" rất thiêng liêng..., Việt Nam đồng nghĩa với chủ nghĩa quốc tế vô sản... là đoàn kết gắn bó". "Trong sự nghiệp đấu tranh chung, nhân dân Việt Nam vẫn luôn luôn nhận phần khó khăn nhất về mình". "Toàn Đảng, toàn dân Campuchia nguyện giữ mối tình đoàn kết, hữu nghị gắn bó và hợp tác toàn diện với nhân dân Việt Nam anh em như gìn giữ con ngươi của mắt mình"27.
Mọi thắng lợi trên chiến trường Đông Dương đều là thắng lợi chung của cả ba dân tộc. Trong điện mừng ngày miền Nam Việt Nam hoàn toàn giải phóng, Quốc trưởng Chính phủ Vương quốc đoàn kết Campuchia Nôrôđôm Xihanúc viết: “Thắng lợi này của Việt Nam cũng là thắng lợi của tất cả các dân tộc ở Đông Dương chúng ta và của toàn thể các dân tộc trong thế giới thứ ba. Loài người nói chung và nước Campuchia nói riêng sẽ không bao giờ quên sự đóng góp vô giá, và không gì so sánh nổi của các bạn vào thắng lợi đó”28.
Trong liên minh chiến đấu Việt Nam - Lào - Campuchia nổi lên đặc điểm: Việt Nam là chiến trường chính. Miền Nam Việt Nam là chiến trường trọng điểm, miền Bắc Việt Nam vừa là chiến trường chống chiến tranh phá hoại, vừa là hậu phương của các chiến trường trên cả ba nước. Việt Nam bị Mỹ tập trung đánh phá ác liệt nhất, phải gánh vác trách nhiệm nặng nề nhất. So với Lào và Campuchia, Việt Nam là nước lớn hơn, có quân đội đông hơn, lại thường xuyên có mặt trên chiến trường hai nước bạn, còn quân đội Lào và Campuchia không tham gia chiến đấu trên chiến trường Việt Nam. Đó là điều dễ bị kẻ thù tuyên truyền xuyên tạc, dễ làm nảy sinh trong nội bộ của liên minh những tư tưởng phức tạp.
Gắn lợi ích quốc gia với lợi ích chung của ba nước Đông Dương, Việt Nam luôn coi sự ủng hộ, giúp đỡ, phối hợp với cuộc đấu tranh của nhân dân Lào, cũng như nhân dân Campuchia là một nghĩa vụ của chính mình, là sự giúp đỡ lẫn nhau.
Trong suốt chiều dài lịch sử cách mạng, liên minh chiến đấu Việt Nam - Lào - Campuchia là một liên minh tự nguyện, bình đẳng, nhằm mục tiêu chính nghĩa, trong sáng là cùng chiến đấu chống kẻ thù chung, vì độc lập tự do của mỗi quốc gia - dân tộc trên bán đảo Đông Dương. Quá trình xây dựng và củng cố liên minh là một quá trình đấu tranh để giữ vững mục tiêu, đấu tranh để thống nhất, trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng độc lập chủ quyền và lợi ích chính đáng của nhau.
Trong sự nghiệp đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam nhận thức sâu sắc rằng: “phát triển và củng cố mối quan hệ đặc biệt giữa ba nước Đông Dương, đoàn kết và tôn trọng độc lập, chủ quyền của mỗi nước, hợp tác toàn diện, giúp đỡ lẫn nhau xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là quy luật sống còn và phát triển của cả ba dân tộc anh em”. “Trước sau như một Việt Nam trung thành với nghĩa vụ quốc tế của mình đối với cách mạng Lào và cách mạng Campuchia”29.
-----------------

* Khoa Lịch sử, Trường đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội.

1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.1, tr.467.
2, 3. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.6, tr.532, 541-542.
4, 5. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.7, tr. 114, 122.
6. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.470.
7. Xem Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.8, tr.151.
8. Trường Chinh: Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Việt Nam,
Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1975, t.1, tr.249.
9. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.169.
10. Xem: Võ Nguyên Giáp: Chiến đấu trong vòng vây, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1995, tr.346.
11. Xem: Ban Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị: Tổng kết cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp - Thắng lợi và bài học, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr.389.
12, 13, 14. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.9, tr.277, 287, 293.
15, 16. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.12, tr.441, 476.
17. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.12, tr. 149.
18. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.13, tr.152.
19. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.7, tr.64.
20, 21. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.15, tr.210, 212.
22. Xem Nguyễn Phúc Luân: Ngoại giao Việt Nam hiện đại vì sự nghiệp giành độc lập tự do, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr.173.
23. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.11, tr.412.
24. Lưu Văn Lợi: 50 năm ngoại giao Việt Nam 1945-1995, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2004, tr.253-254.
25. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.37, tr.475.
26. Cayxỏn Phômvihản: Xây dựng một nước Lào hoà bình, độc lập và xã hội chủ nghĩa, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1978, tr.91-184.
27. Mãi mãi đứng bên cạnh nhân dân Việt Nam anh hùng, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.31-32.
28. Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ - Thắng lợi và bài học, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr.256.
29. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới (Đại hội VI, VII, VIII, IX), Sđd, tr.106.


Những chiến công thầm lặng trong Trại Davis

Những chiến công thầm lặng trong Trại Davis
Được sự phân công của chỉ huy phái đoàn, hai đồng chí Phạm Văn Lãi và Nguyễn Văn Cẩn đã vượt qua lửa đạn, dũng cảm cắm lá cờ giải phóng lên nóc tháp nước Trại Davis, lúc 9h sáng 30/4/1975. Đây là một trong những lá cờ cách mạng sớm nhất tung bay trên Sài Gòn - TP HCM trong Ngày đại thắng của dân tộc Việt Nam.
Vào dịp 30/4/2011, tôi được Đại tá Nguyễn Văn Khả (tức Vũ Nam Bình, Trưởng Ban liên lạc Cựu chiến binh Ban Liên hợp quân sự Trại Davis) cho xem bức thư của nguyên Chủ tịch nước Lê Đức Anh gửi Bộ Quốc phòng và Ban Thi đua khen thưởng Trung ương, đề nghị phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho Đoàn Đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.
Là người từng đảm trách các vị trí trọng yếu trong Bộ Tư lệnh miền (B2), đồng chí Lê Đức Anh nắm rõ và đánh giá cao tinh thần kiên định, mưu trí, sáng tạo và kết quả đấu tranh của cán bộ, chiến sĩ ta tại Trại Davis trong quá trình giám sát, bảo đảm việc thi hành Hiệp định Paris…
Đến dịp kỉ niệm 66 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh, tôi nhận được tin: Chủ tịch nước Trương Tấn Sang vừa kí quyết định phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.
Một số thành viên CLB Cựu chiến binh Trại Davis họp mặt kỷ niệm 36 năm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. (Nguồn: Ban liên lạc Cựu chiến binh Ban liên sự Trại Davis).

Việc tổ chức trao tặng sẽ diễn ra vào hạ tuần tháng 12/2011, nhân kỉ niệm 67 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam. Đã nhiều năm gắn bó với Ban liên lạc Trại Davis, tôi lập tức đến thăm Đại tá Vũ Nam Bình. Trong căn nhà ấm cúng trên phố Lý Nam Đế (Hà Nội), bên ấm trà nóng, một số vị trong Ban liên lạc gồm Đại tá Bình, Đại tá Đinh Quốc Kỳ, ông Phạm Văn Lãi vui vẻ đón tôi. Và câu chuyện của chúng tôi lại trở về với kí ức những năm tháng hào hùng, sôi nổi trong Trại Davis tại Sài Gòn từ 1973-1975.
Ngày 27/1/1973, Hiệp định Paris về kết thúc chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được kí kết, đã mở ra thời cơ mới cho cuộc kháng chiến của dân tộc Việt Nam theo phương châm “Mỹ cút, ngụy nhào”. Theo quy định của Hiệp định, đầu tháng 2/1973, hai phái đoàn quân sự của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có mặt tại “Trại Davis” trong sân bay Tân Sơn Nhất, tham gia Ban Liên hợp quân sự Trung ương 4 bên, có nhiệm vụ phối hợp hành động bảo đảm thi hành những điều khoản về quân sự của Hiệp định Paris. Trong suốt 823 ngày đêm, phái đoàn ta đã hiên ngang, kiên định đấu tranh trực diện, công khai với Mỹ - ngụy, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao…
So với Hiệp định Giơnevơ năm 1954, Hiệp định Paris về kết thúc chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam là một bước tiến dài để đất nước hoàn toàn độc lập, thống nhất. Do vậy, việc bảo đảm thi hành Hiệp định được Trung ương Đảng đặt ra yêu cầu rất cao, nhằm buộc quân Mỹ phải rút hết và đúng lịch trình cũng như việc trao trả nhân viên quân sự và dân sự giữa các bên liên quan.
Một bài học cảnh giác vẫn được Đại tá Vũ Nam Bình nhắc lại: Theo thỏa thuận giữa hai bên, 9 giờ sáng 28/1/1973, phía Mỹ sẽ đưa trực thăng tới sân bay Thiện Ngôn (Bắc Tây Ninh, do ta kiểm soát) để đón Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam do Trung tướng Trần Văn Trà làm Trưởng đoàn vào Trại Davis.
Vốn là người thận trọng, đồng chí Trần Văn Trà gọi chúng tôi tới trao đổi: “Cần hết sức cảnh giác, đề phòng với những thủ đoạn của Mỹ - ngụy phá hoại việc thi hành Hiệp định, kể cả việc địch có thể tấn công vào các đoàn đại biểu ta”.
Với vai trò Trưởng ban Bảo vệ an ninh, tôi đề xuất: “Để bảo đảm an toàn, đoàn ta chưa nên ra điểm hẹn. Đề nghị anh cho một tổ trinh sát đi tiền trạm”. Đúng như nhận định của đồng chí Trần Văn Trà, tới giờ hẹn, xuất hiện hai chiếc máy bay lượn vòng rồi trút hàng loạt bom xuống điểm đón đoàn ta! Nhờ cảnh giác, phía ta không thiệt hại gì…
Hằng ngày, sau các hoạt động thực thi nhiệm vụ bảo đảm thực hiện các điều khoản của Hiệp định Paris, phái đoàn ta gồm hàng trăm cán bộ, chiến sĩ, nhân viên vẫn duy trì nếp sinh hoạt theo điều lệnh của Quân đội. Giữa “hang hùm miệng sói”, họ vẫn chơi thể thao, đánh cờ, trồng cây; tổ chức biểu diễn văn nghệ và chiếu phim.
Một món ăn tinh thần luôn được các thành viên Trại Davis yêu thích - ông Phạm Văn Lãi, năm đó mang quân hàm Thượng sĩ, là tổ trưởng tổ chiếu phim kể lại: Mỗi tuần, giữa Tân Sơn Nhất (Sài Gòn) và Gia Lâm (Hà Nội) có cầu hàng không nhằm đảm bảo các hoạt động của phái đoàn ta. Ngoài tài liệu, thiết bị phục vụ hoạt động của đoàn, những bộ phim nhựa cũng được chuyển vào để cán bộ, nhân viên Trại Davis thưởng thức.
Ngày 26/4/1975, ông Lãi chiếu liền 5 tập phim “Giải phóng châu Âu” của điện ảnh Liên Xô. Hình ảnh những chiếc xe tăng Hồng quân ào ạt tiến vào Berlin và lá cờ đỏ Búa Liềm tung bay trên nóc nhà Quốc hội Đức khiến mọi người liên tưởng, không lâu nữa lá cờ cách mạng sẽ hiên ngang bay trên nóc Dinh Độc Lập. “Rạng sáng 29/4/1975, hỏa tiễn và đại bác của quân ta tới tấp trút xuống sân bay Tân Sân Nhất. Nằm trong hầm trú ẩn, chúng tôi ước tính vị trí pháo bắn chỉ cách trung tâm Sài Gòn 10 - 15km; chắc chắn thời điểm quân ta tiến vào Sài Gòn chỉ còn tính bằng giờ” – ông Lãi nhớ lại.
Sáng hôm sau, được sự phân công của chỉ huy phái đoàn, hai đồng chí Phạm Văn Lãi và Nguyễn Văn Cẩn đã vượt qua lửa đạn, dũng cảm cắm lá cờ giải phóng lên nóc tháp nước Trại Davis, lúc 9h sáng 30/4/1975. Đây là một trong những lá cờ cách mạng sớm nhất tung bay trên Sài Gòn – TP HCM trong Ngày đại thắng của dân tộc Việt Nam.
Quá trình đấu tranh thi hành Hiệp định Paris, chúng ta đã buộc Mỹ - ngụy trao trả gần 31.500 nhân viên quân sự và dân sự bị địch bắt; trong đó có các đồng chí Trương Mỹ Hoa, Võ Thị Thắng, Lê Quang Vịnh… Hơn 2 năm đấu tranh thi hành hiệp định, phái đoàn ta có 9 đồng chí hi sinh, 25 đồng chí bị thương. Một số thành viên CLB Cựu chiến binh Trại Davis họp mặt kỷ niệm 36 năm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.  (Nguồn: Ban liên lạc Cựu chiến binh Ban liên hợp quân sự Trại Davis)