Thứ Tư, 15 tháng 8, 2012

Lộc Ninh - vùng đất “của Chính phủ”

Lộc Ninh - vùng đất “của Chính phủ”


Việc giải phóng Lộc Ninh, Bù Đốp đã tạo điều kiện hết sức thuận lợi cho cuộc kháng chiến chống Mỹ trên chiến trường miền Nam. Đặc biệt là từ sau khi Hiệp định Pari được ký kết ngày 27-1-1973, Lộc Ninh trở thành “vùng đất Chính phủ” cùng với miền Đông Nam bộ phát triển thành một vùng giải phóng rộng lớn. Tháng 3-1972, Bộ chỉ huy chiến dịch Nguyễn Huệ về đóng tại Tà Thiết (Lộc Ninh). Đến giữa năm 1972, Tà Thiết được xây dựng thành căn cứ của Bộ chỉ huy tiền phương B2.
Nhà giao tế Lộc Ninh - nơi làm việc của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam
Giai đoạn 1972-1975 là thời kỳ xây dựng vùng giải phóng Lộc Ninh thành thủ phủ của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, hậu phương trực tiếp của chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Ngay sau chiến thắng ngày 7-4, quân và dân Lộc Ninh đã bắt tay vào xây dựng cuộc sống mới và bảo vệ vững chắc vùng giải phóng. Dân số Lộc Ninh từ 3.000 người tăng lên 6.000, trong đó có hàng chục ngàn đồng bào Việt kiều Campuchia trở về. Trong năm 1973, chính quyền cách mạng Lộc Ninh, Bù Đốp quyết định khôi phục lại các đồn điền cao su, tiến hành sản xuất phục vụ cho công nghiệp tại chỗ. Tháng 10-1973, do yêu cầu của chiến trường, các đơn vị C31, C32 của Lộc Ninh và C16 của Bù Đốp được hợp nhất để thành lập một tiểu đoàn của tỉnh Bình Phước với nhiệm vụ hoạt động vây ép địch trên quốc lộ 13 và 14A.
Cuối tháng 1-1973, bộ đội công binh Miền đã mở các con đường mới nối thông 3 cụm căn cứ Tà Thiết - nơi đứng chân của Bộ chỉ huy Miền đến cụm Tham mưu, cụm Chính trị, cục Hậu cần Miền ở Lộc Thành, Lộc Tấn, Cầu Trắng, Lộc Quang... Tháng 2-1973, Bộ Chỉ huy Miền chính thức về Tà Thiết. Cuối quý I-1973, tất cả các cơ quan trong Bộ Chỉ huy Miền và các đơn vị trực thuộc đã về hết trên đất Lộc Ninh. Rừng Lộc Ninh trở thành “rừng Chính phủ”. Bộ Chỉ huy Miền không đóng gọn ở Tà Thiết mà trải rộng khắp 2 xã Lộc Thành, Lộc Tấn và nối sang tận Bù Đốp. Tháng 2 và tháng 5-1973, quân ngụy đã hai lần dội bom vào Lộc Ninh. Trận ném bom ngày 12-5-1973 vào chợ Lộc Ninh đã làm hàng trăm đồng bào bị chết (*). Suốt trong mùa khô năm 1972-1973, địch thường xuyên đánh phá gây nhiều khó khăn cho quân và dân ta. Do đó quân và dân ta vừa phải bảo vệ vùng giải phóng, vừa xây dựng trận địa phòng không và lao động sản xuất. Tại căn cứ Tà Thiết, hàng loạt kế hoạch tiến công đánh địch cụ thể đã được vạch ra trong mùa khô năm 1973-1974. Những ngày ấy Lộc Ninh thực sự là một trung tâm quân sự, chính trị sôi động của phong trào cách mạng miền Nam. Với tư cách là Thủ phủ của Chính phủ cách mạng, đồng bào Lộc Ninh có vinh dự thay mặt quân dân cả nước tiếp đón các phái đoàn trong Ủy ban quốc tế và đón nhận những người con ưu tú từ các nhà tù Mỹ - ngụy trở về. Đáng chú ý là ngày 12-2-1973 có 8 chuyến bay vận tải dưới sự giám sát quốc tế chở anh chị em bị Mỹ - ngụy giam cầm trở về tới Lộc Ninh. Cũng trong ngày này Chính phủ Cách mạng lâm thời đã trao trả cho phía Mỹ tại Lộc Ninh 27 sĩ quan, binh lính và nhân viên quân sự. Thị trấn Lộc Ninh trở thành trung tâm ngoại giao của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ngay sau khi Hiệp định Pari có hiệu lực.
Cuối năm 1973 và đầu năm 1974, một mạng lưới đường vận tải nối từ Lộc Ninh đến các chiến trường đã được xây dựng dọc biên giới Lộc Ninh. Tháng 8-1974, Thượng Đức được giải phóng, Bộ tư lệnh 559 mở ngay tuyến đường ống dẫn dầu vào chiến trường Nam bộ. Tháng 3-1975, tuyến đường ống dẫn dầu này đã vào đến Lộc Ninh. Trên chiến trường B2 có 5 trạm dầu thì trên địa bàn tỉnh Bình Phước có 3 trạm với các mật danh VK.94 ở Lộc Tấn, VK.98 ở Lộc Quang và VK.96 ở xã Bù Gia Mập (huyện Phước Long cũ). Trước ngày chiến dịch Hồ Chí Minh “khai hỏa”, sư đoàn vận tải ôtô 571 của bộ đội Trường Sơn đã đưa trên 5 vạn quân của Quân đoàn I vào tập kết tại Lộc Ninh, Đồng Xoài. Sư đoàn vận tải 471 đưa gần 5 vạn quân từ Tây Nguyên đổ xuống Lộc Ninh và 6.000 tấn vũ khí về Đồng Xoài. Cùng với số lượng đông đảo quân giải phóng, tháng 3-1975 thanh niên Lộc Ninh đã hăng hái lên đường tòng quân tham gia quân giải phóng. Dân quân, du kích các làng, sở, phum, sóc vừa tham gia canh gác, dọn đường cho bộ đội vừa tích cực lao động sản xuất... Đồng bào Lộc Ninh đã thực sự được sống trong thời khắc lịch sử mà “một ngày bằng 20 năm”. Ngày 26-4-1975, chiến dịch Hồ Chí Minh bắt đầu nổ súng. Bộ chỉ huy tiền phương của chiến dịch rời Tà Thiết về đóng ở Căm Xe (Bến Cát), Sở chỉ huy vẫn đóng ở Tà Thiết để chỉ huy chung toàn chiến trường. Ngày 30-4-1975 chiến dịch Hồ Chí Minh đại thắng, miền Nam hoàn toàn giải phóng!
 Xem thêm:
>> Lộc Ninh kiên cường trong cuộc kháng chiến chống Mỹ giải phóng quê hương

Sứ mệnh lịch sử của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước QĐND - Thứ Sáu, 12/06/2009, 21:35 (GMT+7) Sứ mệnh lịch sử của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước Cập nhật lúc 14:18, Ngày 12/06/2009 Cách đây 40 năm, từ ngày 6 đến ngày 8-6-1969, tại vùng giải phóng thuộc tỉnh Tây Ninh, đã diễn ra một sự kiện lịch sử có ý nghĩa trọng đại đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta: Đại hội thành lập Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.


Sứ mệnh lịch sử của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước

Cách đây 40 năm, từ ngày 6 đến ngày 8-6-1969, tại vùng giải phóng thuộc tỉnh Tây Ninh, đã diễn ra một sự kiện lịch sử có ý nghĩa trọng đại đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta: Đại hội thành lập Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam

Cách đây 40 năm, từ ngày 6 đến ngày 8-6-1969, tại vùng giải phóng thuộc tỉnh Tây Ninh, đã diễn ra một sự kiện lịch sử có ý nghĩa trọng đại đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta: Đại hội thành lập Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam (CPCMLTCHMNVN), do kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát làm Chủ tịch, bác sĩ Phùng Văn Cung, giáo sư Nguyễn Văn Kiết, cụ Nguyễn Đóa làm Phó Chủ tịch và Hội đồng cố vấn do luật sư Nguyễn Hữu Thọ làm Chủ tịch, Luật sư Trịnh Đình Thảo làm Phó Chủ tịch.Việc thành lập CPCMLTCHMNVN và Hội đồng cố vấn Chính phủ đánh dấu những thắng lợi mới có ý nghĩa lịch sử của cách mạng miền Nam biểu hiện rực rỡ ý chí của nhân dân miền Nam thực hiện quyền làm chủ của mình.
1- Thắng lợi mới có ý nghĩa lịch sử. Như đã biết, sau chiến thắng Điện Biên Phủ, thực dân Pháp buộc phải ký Hiệp định Giơ-ne-vơ về chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương, rút quân về nước. Nước Mỹ, với vai trò đỡ đầu cho thực dân Pháp tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam (từ thời tổng thống Tờ-ru-man đến thời tổng thống Ai-xen-hao cầm quyền đều nhất quán quan điểm: “Để cho Đông Dương rơi vào tay cộng sản là đe dọa an ninh nước Mỹ”) đã kiên quyết không ký vào Tuyên bố chung thừa nhận chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, xác định giới tuyến quân sự chỉ là giới tuyến tạm thời; mặc dù Mỹ là một trong 5 nước thành viên dự Hội nghị. Chúng ra sức phá hoại Hiệp định Giơ-ne-vơ bằng cách dựng nên ở miền Nam Việt Nam chính quyền Ngô Đình Diệm làm bù nhìn, tay sai để phá hoại tổng tuyển cử, chia cắt lâu dài nước ta thành hai miền Nam, Bắc.
Thấy rõ âm mưu của đế quốc Mỹ, ngay từ tháng 7-1954, Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 6 (khóa II) đã xác định: “Đế quốc Mỹ đang trở thành kẻ thù chính của nhân dân Đông Dương”. Chỉ từ năm 1955 đến 1958, với chính sách tố cộng, diệt cộng, Mỹ-Diệm đã tàn sát đến 9/10 số cán bộ, đảng viên của ta ở lại Nam Bộ; khoảng 7 vạn cán bộ, đảng viên bị giết; gần 90 vạn cán bộ, nhân dân bị bắt, tù đày; gần 20 vạn bị tra tấn thành tàn phế... Trong 6 vạn đảng viên ở lại, đến năm 1958 chỉ còn lại 5.000… Từ năm 1955 đến năm 1961, Mỹ tiếp tục “bơm” vào miền Nam Việt Nam hơn 7 tỷ đô la cả viện trợ kinh tế và quân sự.
Trước cuộc đấu tranh một mất một còn của cách mạng miền Nam, đầu tháng 12-1957, tại Hội nghị Trung ương 8 (khóa II), Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “ Ta đồng thời tiến hành 2 chiến lược cách mạng: cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và cách mạng XHCN. Nhiệm vụ củng cố miền Bắc tiến lên CNXH có tính chất quyết định thắng lợi của cách mạng trong giai đoạn mới. Lực lượng cách mạng ở  miền Nam duy trì và phát triển là nhân tố trực tiếp quyết định thắng lợi của cuộc chiến tranh cách mạng ở miền Nam”. Đến tháng 5-1959, Hội nghị Trung ương 15 (khóa II) ra Nghị quyết chuyên đề về giải phóng miền Nam.
Do chính sách đàn áp dã man của Mỹ-Diệm, tháng 4-1960, một nhóm người có cùng quan điểm, trong đó có một số người làm việc trong bộ máy chính quyền Sài Gòn, đã họp nhau ở khách sạn Ca-ra-ven, công khai ra tuyên bố cực lực phản đối hành động đàn áp của chính quyền Diệm. Đây là nhân tố chính trị chín muồi để thành lập Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam (MTDTGPMNVN), với cương lĩnh chống Mỹ, cứu nước vừa cụ thể, vừa rộng rãi. Tháng 9-1960, Đại hội lần thứ 3 của Đảng thông qua Nghị quyết về cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, thì đến tháng 12-1960, MTDTGPMNVN ra đời và lập tức sự lãnh đạo của nó phát huy tác dụng to lớn trên khắp miền Nam. Đến năm 1967, uy tín của Mặt trận không những gây ảnh hưởng rộng lớn trong phong trào đấu tranh đòi giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước trong các tầng lớp nhân dân miền Nam Việt Nam, mà còn tác động đến cả phong trào phản đối cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của chính quyền Mỹ do những người dân Mỹ yêu chuộng hòa bình, công lý tiến hành trên đất Mỹ. Sự thất bại trên chiến trường của quân đội Mỹ-ngụy cùng tác động của những cuộc đấu tranh phản đối chiến tranh của nhân dân Mỹ đã buộc chính quyền Giôn-xơn phải điều chỉnh lập trường hiếu chiến. Tháng 9-1967, thông qua các nhân vật chính trị, ngoại giao cấp cao của nước Pháp làm trung gian, Mỹ chuyển tới Bắc Việt Nam tín hiệu sẽ ngừng các cuộc ném bom phá hoại miền Bắc để “ thương thảo hòa bình” và chính quyền Mỹ chấp nhận việc MTDTGPMNVN tham gia hoạt động chính trị ở miền Nam Việt Nam. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968 của quân và dân miền Nam làm cả nước Mỹ bàng hoàng, buộc chính quyền Mỹ rơi vào thế phải thực sự bước vào thương lượng mà không còn thế mạnh. Đây cũng là thời điểm để MTDTGPMNVN thấy cần phải có một hình thức chính quyền mới để nhân danh ngót một thập kỷ đấu tranh anh dũng của các tầng lớp nhân dân trong vai trò làm chủ. CPCMLTCHMNVN ra đời (8-6-1969) trên cơ sở những thắng lợi to lớn của cuộc đấu tranh cách mạng giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước của các tầng lớp nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng từ năm 1954 đến thời điểm này.
2- Thực hiện quyền làm chủ của nhân dân trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. CPCMLTCHMNVN ngay từ ngày mới ra đời đã kế tục và phát triển sự nghiệp vinh quang của MTDTGPMNVN, buộc mọi thế lực chống đối phải thừa nhận quyền làm chủ của nhân dân miền Nam Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. CPCMLTCHMNVN đã đoàn kết tất cả các tầng lớp nhân dân, các giai cấp, các dân tộc, các tôn giáo và nhân sĩ yêu nước, không phân biệt xu hướng chính trị nhằm đánh đổ ách thống trị của đế quốc Mỹ và chính quyền bù nhìn, tay sai bán nước, thực hiện độc lập, dân chủ, hòa bình, trung lập, tiến tới hòa bình, thống nhất Tổ quốc. Vì mục tiêu đó, MTDTGPMNVN và sau đó là CPCMLTCHMNVN có thành phần ngày càng rộng rãi hơn, linh hoạt và uyển chuyển hơn. MTGPMNVN trước đó, cũng như CPCMLTCHMNVN sau đấy, đều dựa chắc vào khối liên minh công-nông, phát triển lực lượng ngày càng sâu rộng trong quần  chúng cơ bản của cách mạng ở cả thành thị và nông thôn, ở cả đồng bằng và rừng núi. Trên cơ sở đó, thực hiện chủ trương "cứ người nào có thể tranh thủ, đoàn kết được thì tranh thủ, đoàn kết", nhằm phân hóa và cô lập cao độ kẻ thù, tập hợp được lực lượng toàn dân tộc chĩa mũi nhọn vào đế quốc Mỹ xâm lược và bọn tay sai phản động. MTDTGPMNVN và sau đấy là CPCMLTCHMNVN coi những bước đệm tự do, dân chủ, cải thiện dân sinh, hòa bình trung lập là những mục tiêu phù hợp để thu hút các tầng lớp trí thức, học sinh, sinh viên, tín đồ các tôn giáo, ngoại kiều, tư sản dân tộc và quan chức  lớp dưới trong bộ máy ngụy quyền, ngụy quân… vào cuộc đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược, thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập, dân chủ bằng phương pháp hòa bình. MTDTGPMNVN và tiếp đó là CPCMLTCHMNVN không chỉ tập hợp lực lượng chống Mỹ và bè lũ tay sai vào các tổ chức chính trị-xã hội của mình mà còn có các hình thức “ngoài Mặt trận”, “ngoài Chính phủ” như Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam, các hội (nhóm) độc lập của những người có cảm tình với cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, thậm chí cả những phần tử thân Pháp, phần tử không chống Mỹ triệt để nhưng có khuynh hướng chủ hòa. CPCMLTCHMNVN và trước đó là MTDTGPMNVN, trên thực tế là người đại diện chính thức của nhân dân miền Nam. Tại các địa phương, nó tồn tại và phát triển với tư cách là chính quyền cách mạng ở các vùng giải phóng; là đại diện cho chính quyền cách mạng ngay trong các vùng địch tạm kiểm soát.
Xây dựng và phát triển MTDTGPMNVN và sau đó là CPCMLTCHMNVN dưới sự lãnh đạo của Đảng là một thành công điển hình trong việc tổ chức, tập hợp lực lượng cả dân tộc giải quyết mâu thuẫn chung giữa nhân dân Việt Nam và đế quốc Mỹ xâm lược cùng bè lũ tay sai để thực hiện mục tiêu chung là chống chính sách xâm lược của Mỹ, tiến tới hòa bình, thống nhất đất nước.
3 -Thể hiện quyền làm chủ của nhân dân miền Nam trên trường quốc tế.  Là một thực thể chính trị đại diện cho quyền dân chủ của nhân dân miền Nam trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, ngay sau khi được thành lập, CPCMLTCHMNVN đã được 23 nước công nhận, trong đó có 21 nước đặt quan hệ ngoại giao. Từ tháng 6-1969 đến cuối năm 1975, đã có hơn 50 nước trên thế giới (trong đó có nhiều nước tư bản chủ nghĩa) công nhận và lập quan hệ ngoại giao. Điều ấy chứng minh, CPCMLTCHMNVN là đại diện duy nhất của nhân dân miền Nam trên trường quốc tế, còn chính phủ Việt Nam cộng hòa chỉ là chính quyền do Mỹ dựng lên, làm bù nhìn, tay sai cho Mỹ, thực hiện cuộc chiến tranh xâm lược miền Nam Việt Nam, biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới của Mỹ. Đặc biệt, vị thế của nhân dân miền Nam nói riêng và dân tộc Việt Nam nói chung, được thể hiện qua những phát biểu và hoạt động của Đoàn đại biểu CPCMLTCHMNVN trong Hội nghị Pa-ri. Trải qua 4 năm 9 tháng, với 202 phiên họp công khai và 24 cuộc họp riêng, ngày 27-1-1973, Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam đã được chính thức ký kết tại Trung tâm các hội nghị quốc tế ở Pa-ri giữa 4 bên tham gia hội nghị. Thay mặt CPCMLTCHMNVN, vào lúc 11giờ 30 phút (giờ Pa-ri) ngày 17-1-1973, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Thị Bình đã ký chính thức vào các văn bản của Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam và ba Nghị định thư kèm theo. Hiệp định ghi nhận quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam, coi đó là “quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm và phải được tất cả các nước tôn trọng”, “Nhân dân miền Nam tự quyết định tương lai chính trị của  miền Nam Việt Nam”. Quyền tự quyết ấy của nhân dân miền Nam đã được thực hiện trong Hội nghị hiệp thương, diễn ra vào tháng 11-1975, bàn về Tổng tuyển cử trong cả nước và Quốc hội  nước Việt Nam thống nhất, họp từ ngày 24-6 đến ngày 3-7-1976, đã quyết định đổi tên nước là nước Cộng hòa XHCN Việt Nam.
Kể từ ngày thành lập CPCMLTCHMNVN đến nay đã 40 năm (1969-2009), bài học về xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân và phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong sự nghiệp giải phóng, thống nhất đất nước của CPCMLTCHMNVN vẫn mang giá trị thời sự trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN của chúng ta hiện nay.
Thiếu tướng, GS. BÙI PHAN KỲ.

TUYÊN BỐ VỀ VIỆC ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU QUỐC DÂN MIỀN NAM VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ CÁCH MẠNG LÂM THỜI CỘNG HÒA MIỀN NAM VIỆT NAM


CHÍNH PHỦ******

VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA
Độc lập – Tự do - Hạnh phúc
******
Hà Nội, ngày 12  tháng 06  năm 1969

TUYÊN BỐ
VỀ VIỆC ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU QUỐC DÂN MIỀN NAM VIỆT NAM VÀ CHÍNH PHỦ CÁCH MẠNG LÂM THỜI CỘNG HÒA MIỀN NAM VIỆT NAM
Vừa qua, Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam và các lực lượng yêu nước khác ở miền Nam Việt Nam đã họp Đại hội đại biểu quốc dân miền Nam để thảo luận những vấn đề quan trọng của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trong thời kỳ mới và nhất trí quyết định thành lập Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Hội đồng cố vấn bên cạnh Chính phủ.
Cùng với đồng bào cả nước, Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa nhiệt liệt chào mừng sự kiện lịch sử này, một thắng lợi mới rất to lớn của quân và dân miền Nam anh hùng.
Đây là kết quả rực rỡ của những thắng lợi quân sự, chính trị và ngoại giao của nhân dân miền Nam đã giành được, nhất là từ đầu năm 1968 đến nay.
Đây là bước phát triển tất yếu của quá trình xây dựng chính quyền cách mạng của nhân dân miền Nam, là biểu hiện rực rỡ ý chí của nhân dân miền Nam thực hiện quyền làm chủ của mình.
Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa nhiệt liệt hoan nghênh đường lối và chương trình hành động của Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Đường lối và chương trình đó nói lên quyết tâm của nhân dân miền Nam động viên mọi lực lượng để đánh thắng hoàn toàn giặc Mỹ xâm lược, và thực hiện nguyện vọng thiết tha xây dựng miền Nam Việt Nam độc lập, dân chủ, hòa bình, trung lập và phồn vinh, tiến tới hòa bình thống nhất nước nhà.
Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã tuyên bố công nhận giải pháp toàn bộ mười điểm của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam là lập trường đấu tranh của mình tại Hội nghị Pa-ri về Việt Nam, và sẽ hiệp thương với các lực lượng chính trị ở miền Nam Việt Nam tán thành hòa bình, độc lập, trung lập để thành lập một Chính phủ liên hiệp lâm thời trên tinh thần bình đẳng, dân chủ, tôn trọng lẫn nhau.
Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa trịnh trọng tuyên bố:
Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam do Đại hội đại biểu quốc dân miền Nam Việt Nam bầu ra là Chính phủ hợp pháp, đại diện chân chính của nhân dân miền Nam Việt Nam.
Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa thỏa thuận cùng Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam nâng Phái đoàn đại diện Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tại miền Bắc thành Đoàn đại diện đặc biệt của Cộng hòa miền Nam Việt Nam.
Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa sẽ cùng Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tăng cường quan hệ về mọi mặt giữa hai miền trong khi chờ đợi thực hiện hòa bình thống nhất Tổ quốc và cổ vũ, giúp đỡ lẫn nhau để hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc.
Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa nghiêm khắc lên án thái độ ngoan cố của Mỹ. Thông cáo chung Mỹ - ngụy tại Mít-uê ngày 08-06-1969 càng chứng tỏ Mỹ vẫn giữ luận điệu vô lý “hai bên cùng rút quân”, tiếp tục âm mưu thực hiện chủ nghĩa thực dân mới ở miền Nam Việt Nam, chống lại việc thành lập Chính phủ liên hiệp lâm thời, gây trở ngại cho sự tiến triển của Hội nghị Pa-ri về Việt Nam. Việc tổng thống Mỹ tuyên rút 25.000 quân Mỹ chỉ là thủ đoạn lừa bịp nhân dân Mỹ và nhân dân thế giới đang đòi phải rút ngay toàn bộ quân Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam.
Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa kiên quyết đòi Mỹ phải chấm dứt xâm lược Việt Nam, rút hết quân Mỹ và quân các nước ngoài thuộc phe Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam mà không được đòi điều kiện gì; phải triệt để tôn trọng quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam và các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam như hiệp nghị Giơ-ne-vơ năm 1954 về Việt Nam đã xác nhận. Giải pháp toàn bộ mười điểm của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam là cơ sở đúng đắn, hợp tình hợp lý để giải quyết vấn đề Việt Nam.
Việc họp Đại hội đại biểu quốc dân miền Nam Việt Nam về việc thành lập Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Việt Nam là một nguồn cổ vũ rất to lớn đối với toàn thể nhân dân Việt Nam và kiều bào ở nước ngoài.
Hưởng ứng lời hiệu triệu của Đại hội đại biểu quốc dân miền Nam Việt Nam và tuyên bố của Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, quân và dân miền Bắc quyết phát huy truyền thống chiến đấu và sản xuất, thi đua xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa vững mạng, sẵn sàng đập tan mọi âm mưu của đế quốc Mỹ chống nước Việt Nam dân chủ cộng hòa; làm tròn nghĩa vụ của hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn.
Thực hiện các quyết định của Đại hội đại biểu quốc dân miền Nam Việt Nam và mọi chủ trương, chính sách của Chính phủ cách mạng lâm thời, quân và dân miền Nam anh hùng nhất định sẽ càng phát huy thế thắng, thế mạnh của thời kỳ tổng tiến công và nổi dậy, vượt khó mọi khó khăn gian khổ, kiên trì cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước tiến lên giành những thắng lợi to lớn hơn nữa cho đến thắng lợi hoàn toàn.
Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tin tưởng sâu sắc rằng các nước xã hội chủ nghĩa anh em, các nước yêu chuộng hòa bình và công lý, nhân dân thế giới và nhân dân tiến bộ Mỹ sẽ càng nhiệt liệt ủng hộ cuộc chiến đấu anh dũng của nhân dân Việt Nam cho đến thắng lợi cuối cùng.


CHÍNH PHỦ
NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA

Thăm lại trụ sở Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam trên tuyến lửa năm xưa...


Thăm lại trụ sở Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam trên tuyến lửa năm xưa...
Khu trụ sở Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ở mảnh đất tuyến lửa năm xưa nay trở thành di tích văn hóa hết sức quí giá, ngày ngày mở cửa đón những bước chân du khách đến từ mọi miền...

Đất nước hòa bình, thống nhất hơn một phần ba thế kỷ và vùng đất "bom gầm, đạn réo" ở Nam vĩ tuyến 17 đã có nhiều thay đổi. Giờ đây, thị xã Đông Hà bé nhỏ, với những ngôi nhà lụp xụp, tồi tàn trong chiến tranh dường như đã biến mất, nhường chỗ một TP Đông Hà khang trang, hiện đại là thủ phủ của tỉnh Quảng Trị. Những miền đất Gio Linh, Cồn Tiên, Dốc Miếu... trên hàng rào điện tử Mắc Namara xơ xác, đìu hiu, cũng ngút ngàn màu xanh trù phú của bao làng xóm yên bình.
Khu di tích trụ sở Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam (CMLTCHMNVN) nằm trong lòng thị trấn Cam Lộ cách thành phố Đông Hà chỉ chừng 12 cây số. Nơi đây, vào năm 1829, Vua Minh Mạng cho xây dựng thành Vĩnh Ninh - Lỵ Sở. Và,  sau này Chính phủ CMLTCHMNVN lại chọn diện tích 17.300m2 của khuôn viên thành Vĩnh Ninh cũ để đặt trung tâm đầu não hoạt động công khai, tiếp tục lãnh đạo cách mạng miền Nam tiến tới thắng lợi hoàn toàn.
Không giấu được tự hào trên khóe mắt, anh Nguyễn Quang Chức, Phó Giám đốc Trung tâm Di tích - Danh thắng tỉnh Quảng Trị, bởi lẽ trụ sở Chính phủ CMLTCHMNVN được xây dựng ngay trước "mũi giặc", song vẫn tồn tại vững chắc và hoạt động cho đến ngày đất nước sạch bóng giặc thù.
Thật khó có thể tưởng tượng trung tâm đầu não của Chính phủ CMLTCHMNVN chỉ cách biển Đông chừng 20 cây số theo đường chim bay, trong khi những năm tháng chiến tranh trên mặt biển luôn túc trực những hạm đội của giặc được trang bị đầy đủ vũ khí tối tân nhất. Thêm vào đó, ở phía Nam cũng không xa là khu căn cứ quân sự Đà Nẵng, nơi cất cánh của lũ "thần sấm", "con ma" "pháo đài bay B52"... 
Chủ tịch Fidel Castro ở Quảng Trị năm 1973
Sau khi được thành lập, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam đã lãnh đạo quân và dân miền Nam đấu tranh giành nhiều thắng lợi lớn trên các mặt trận chính trị, quân sự, ngoại giao, thu hút sự đồng tình của đông đảo các lực lượng yêu chuộng tự do, công lý trên thế giới. Trước phong trào đấu tranh ngày càng sục sôi của nhân dân miền Nam, để tập hợp mọi lực lượng yêu nước chống Mỹ-ngụy, tiến tới giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, ngày 6/6/1969, Chính phủ CMLTCHMNVN ra đời, do Kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát làm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch là Bác sĩ Phùng Văn Cung (kiêm Bộ trưởng Bộ Nội vụ), Giáo sư Nguyễn Văn Kiết, cụ Nguyễn Đóa, cùng 8 Bộ trưởng và 12 Thứ trưởng.
Bên cạnh, còn có Hội đồng cố vấn do Luật sư Nguyễn Hữu Thọ làm Chủ tịch; Luật sư Trịnh Đình Thảo làm Phó Chủ tịch và 11 ủy viên... Lịch sử đã khẳng định, việc thành lập Chính phủ CMLTCHMNVN là kết quả đấu tranh lâu dài, gian khổ, nhưng rất anh dũng của quân và dân miền Nam, đánh dấu bước thắng lợi có ý nghĩa lịch sử trọng đại trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta. Chính phủ CMLTCHMNVN ra đời là sách lược sáng suốt của Cách mạng miền Nam, phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, nâng cao vị thế chính trị của ta trên trường quốc tế...
Đến giữa năm 1972, tỉnh Quảng Trị được giải phóng và sau đó, ngày 27/1/1973, Hiệp định Paris được ký kết; với mục đích tạo thuận lợi các hoạt động ngoại giao, tiếp tục lãnh đạo cách mạng tiến tới thắng lợi hoàn toàn, Chính phủ CMLTCHMNVN quyết định chọn vùng đất thuộc thôn Tân Hòa (nay là thị trấn Cam Lộ), huyện Cam Lộ, Quảng Trị, đặt trụ sở làm việc. Từ miền Bắc xã hội chủ nghĩa, tàu biển chở vật liệu xây dựng như: Xi măng, khung sườn bằng sắt, tốn, ván vào và 500 công nhân của Công ty Xây dựng số 8 tỉnh Nghệ An lúc bấy giờ, do hai Thứ trưởng Bộ Xây dựng trực tiếp đôn đốc thi công suốt 25 ngày đêm, đã nhanh chóng hoàn tất công trình đưa vào sử dụng đúng vào ngày 6/6/1973, kỷ niệm lần thứ tư ngày thành lập Chính phủ CMLTCHMNVN.
Bia di tích trụ sở Chính phủ CMLTCHMNVN ở Cam Lộ, Quảng Trị
Khu trụ sở Chính phủ CMLTCHMNVN được xây dựng bao gồm 2 khu độc lập, trong đó khu A với 2 nhà làm việc của Chính phủ và Bộ Ngoại giao, 1 nhà ăn; còn khu B gồm 5 dãy nhà, trong đó có 2 nhà khách làm nơi lưu trú của các Đại sứ, 3 nhà còn lại là nơi làm việc, ăn nghỉ của các thành viên đi theo Đại sứ các nước, phóng viên báo chí, các nhân viên, cán bộ của Chính phủ...
Song, tại khu di tích Chính phủ CMLTCHMNVN ngày nay chỉ có Nhà làm việc của Chính phủ và nhà nghỉ của các Đại sứ; còn lại những dãy nhà khác chỉ là nền móng và bia đá ghi dấu. "Nhà làm việc của Chính phủ và nhà nghỉ của các Đại sứ được Bộ VHTT (cũ) đầu tư tôn tạo phục dựng cách đây khoảng 4 năm" - Anh Nguyễn Quang Chức giải thích tiếp rằng, sau năm 1975, khi Chính phủ CMLTCHMNVN kết thúc vai trò lịch sử của mình thì trụ sở được chuyển giao cho cơ quan dân sự quản lý. Không may, vào tháng 9/1985, bão số 8 đã tàn phá và đã hủy hoại hoàn toàn công trình...
Theo lời anh Chức, khi phục dựng lại kiến trúc và vật liệu xây dựng các ngôi nhà vẫn đảm bảo đúng nguyên gốc công trình được làm từ ban đầu. Ngay cả nội thất và đồ dùng bên trong nhà cũng như xưa, không có gì thay đổi...
Gian giữa của nhà Chính phủ là phòng giao tế, nơi tổ chức đại lễ ngoại giao, cũng là nơi Đại sứ các nước đến trình Quốc thư đặt quan hệ ngoại giao với Chính phủ CMLTCHMNVN. Anh Chức kể rằng, sau khi chuyển giao cho cơ quan dân sự quản lý, rồi bị bão số 8 tàn phá, dường như hiện vật tại trụ sở Chính phủ CMLTCHMNVN đã bị thất lạc và hư hỏng; chỉ còn hai chiếc quạt điện là hiện vật gốc. Từ những bức ảnh tư liệu đen trắng mờ nhạt, rồi lần theo lời kể của từng nhân chứng, Trung tâm Di tích - Danh thắng Quảng Trị đã giao nhiệm vụ cho các cán bộ, nhân viên thiết kế lại mẫu, tìm lại các cơ sở sản xuất đồ dùng trang trí nội thất ở Hà Nội để phục chế nguyên gốc các hiện vật, trong đó có những tấm thảm, bục gỗ, lọ hoa; những chậu cây, bàn tiếp khách, bàn làm việc, giường ngủ... của Chủ tịch Hội đồng cố vấn Nguyễn Hữu Thọ ở các gian bên phải và bên trái căn nhà.
Ngay tại gian giữa của nhà Chính phủ cũng đã diễn ra sự kiện quan trọng, đó là vào ngày 6/6/1973, Chính phủ CMLTCHMNVN làm lễ ra mắt nhân dân trong buổi mít tinh long trọng, trước sự chứng kiến của đại biểu 19 nước anh em bầu bạn tới dự và trình Quốc thư, cùng đông đảo phóng viên báo chí trong và ngoài nước. Vào cuối năm 1973, tại gian phòng cũng đã đón đồng chí Fidel Castro - Chủ tịch Đảng Cộng sản Cuba; đồng chí Jorger Marsel - Bí thư Đảng Cộng sản Pháp và nhiều đồng chí lãnh đạo các nước anh em tới thăm, cổ vũ nhiệt tình cuộc đấu tranh gian khổ của nhân dân miền Nam...
Trong gian phòng trưng bày của khu di tích trụ sở Chính phủ CMLTCHMNVN ghi nhận có hơn 40 nước cử Đại sứ đến trình Quốc thư đặt quan hệ ngạo giao và nhiều đoàn đại biểu quốc tế đến thăm. Và, cũng còn đây sắc luật khen thưởng nhân dân và cán bộ có công với cách mạng, cũng như những hình ảnh đoàn đại diện của Chính phủ CMLTCHMNVN đi thăm và đặt quan hệ ngoại giao với các nước anh em, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ cuộc chống Mỹ cứu nước của quân và dân ta, tạo thêm vị thế Chính phủ trên trường quốc tế...
Lửa chiến tranh đã nguội tắt hơn một phần ba thế kỷ qua, song khu di tích trụ sở Chính phủ CMLTCHMNVN vẫn còn đó mãi mãi là bằng chứng sinh động cho lịch sử đấu tranh gian khổ, đầy đau thương, mất mát nhưng cũng rất đỗi oai hùng của quân và dân miền Nam; mãi mãi là biểu tượng khát vọng và quyết tâm giành độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ trong công cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc Việt Nam...
Theo Long Vân - Thanh Bình (Báo CAND Tết 2011)

"Tướng Giáp qua hai cuộc chiến tranh Đông Dương"


"Tướng Giáp qua hai cuộc chiến tranh Đông Dương"

Chúng tôi muốn sống trong hoà bình và hữu nghị với tất cả các quốc gia trên thế giới. Cuốn sách này đã thuật lại cuộc đời của Võ Nguyên Giáp và lịch sử của Quân đội nhân dân Việt Nam. Sự thật không phải quân đội, mà chính nhân dân đã thắng trong cuộc chiến tranh, nhưng làm sao có thể tách đôi? 

Nhân dân là quân đội: tất cả đều là chiến sĩ… Đàn ông và đàn bà Việt Nam là những người thực sự đã gây dựng nên thắng lợi; Tổng tư lệnh xuất chúng. Cụ Hồ Chí Minh là người lái con thuyền, nhưng ông Giáp là người chỉ huy các lực lượng vũ trang. “Của cải dành riêng” của Cụ Hồ Chí Minh là Đảng Cộng sản, nhưng của ông Giáp là quân đội, và là quân đội nhân dân đã giành thắng lợi trong chiến tranh. Trong giới hạn này, ông Giáp có thể tự hào đã giành hai thắng lợi to lớn và là nguồn gốc của thống nhất và độc lập của đất nước ông.
 
Rất nhiều thắng lợi của ông đã làm cho ông trở thành một trong những người chỉ huy vĩ đại nhất của tất cả các thời đại. Ông Giáp đã thật sự là một nhà chiến lược vĩ đại? Vì bốn lý do không dễ dàng gì để trả lời câu hỏi đó: Dưới chế độ ông phục vụ, mọi quyết định được tiến hành tập thể; trong phạm vi quân sự, ông là người đứng đầu trong số những người ngang hàng (Primus inter pares) nhưng chỉ mình ông là trọng tài. Nước Việt Nam còn là một xã hội đóng kín, có khả năng mở hơn cách đây vài năm, nhưng những người từ phương Tây tư bản chủ nghĩa đến đã quan tâm đến quá khứ rất gần đây, không đánh giá cao.
 
Tôi có thể đến Hà Nội vì cánh cửa đã mở, vì tôi là một tác giả nổi tiếng, vì tôi đã là một người lính và như vậy đối với ông Giáp trong lúc trò chuyện dễ chấp nhận hơn một nhà văn không có kiến thức quân sự và cũng vì tôi là một công dân Anh quốc, có thể khách quan hơn một người Pháp hoặc một người Mỹ. Cuối cùng, người Việt Nam là những người rất kín đáo; nói công khai những vấn đề cá nhân là không chấp nhận được-nên để tấm lòng ngay thẳng trước những người không quen biết; những chi tiết của đời tư, những tư tưởng và tình cảm sâu kín đều cấm ky. Một quyển tiểu sử “cho Tây phương” là không phù hợp.
 
Nhưng bản thân những sự việc đủ sức thuyết phục và chúng đã tập trung đủ những chỉ số để có một sự đánh giá. Từ năm 1944 đến năm 1975, mọi người biết đến cuộc đời của ông Giáp không thể tách khỏi những trận chiến đấu, những trận tấn công và những sáng kiến khác của ông. Trong nhiều công trình ông đã tham gia, hoặc với tư cách Đại tướng, hoặc với tư cách thành viên của Chính phủ. Ông Giáp đã giữ chức Tổng tư lệnh quân đội ròng rã ba mươi năm và đã tham dự vào những cuộc thảo luận chính trị ở cấp cao trong gần 50 năm: hai sự việc chưa bao giờ có trong lịch sử.
 
Ngoài ra rất khó so sánh với các vị tướng khác, sự kết hợp giữa hoạt động du kích ở phạm vi lấy tác chiến thông thường cũng là việc chưa bao giờ có. Ông Giáp đã tỏ rõ những đức tính xuất chúng trong tất cả mọi lĩnh vực lớn nhất của chiến tranh. Về chiến lược, ông đã có một tầm quan sát sâu sắc các sự kiện và đã khoanh vùng những vấn đề chủ yếu; ông đã làm lung lay đối phương bằng sử dụng sáng suốt những lực lượng từ nhiều điểm: ở Lào, ở Campuchia, trong vùng châu thổ sông Cửu Long, trên các cao nguyên Tây Nguyên, vùng đồng bằng ven biển, hai bên bờ vùng giới tuyến phi quân sự.
 
Về chiến thuật, ông Giáp là bậc thầy trong nghệ thuật chiến tranh du kích; về mặt này, ông là người chỉ huy vĩ đại nhất của mọi thời đại. Trong lĩnh vực chiến tranh thông thường, ông biết cách đổi mới: ví dụ ở Điện Biên Phủ ông đã sử dụng giao thông hào tiếp cận xói mòn những lực lượng phòng ngự, phá huỷ từ vị trí phòng ngự này đến vị trí phòng ngự khác trước khi vượt qua số còn lại. Hơn ai hết, ông đã làm cho chiến sĩ của ông hiểu được sự cần thiết và những nguyên tắc của một “timing” tốt, tác dụng của bất ngờ, ngụy trang và động tác giả; ví dụ các đơn vị của ông đã ẩn nấp kín đáo đến nỗi quân địch chỉ phát hiện được họ khi người đứng đầu bị loạt đạn ngay sát gần; so sánh với những hầm hố của quân Mỹ như Khe Sanh có thể chụp ảnh được qua vệ tinh.
 
Trong lĩnh vực hậu cần, ông thật xuất sắc suốt cuộc chiến tranh Đông Dương, không có một sự làm chủ hoàn hảo hơn về công tác hậu cần mà không thể thực hiện được trong chiến dịch Điện Biên Phủ. Cũng như vậy, trong cuộc chiến tranh Việt Nam, đường mòn Hồ Chí Minh đã cung cấp tiếp tế cho Quân đội nhân dân Việt Nam và quân giải phóng miền Nam ròng rã mấy năm trời. Chỉ có ít người chỉ huy quân sự tỏ ra có tinh thần làm chủ được mọi yếu tố làm nên thắng lợi. Hơn nữa, ông Giáp biết phái đi điều gì cơ bản cho cấp này; mặt khác làm sao ông có thể đảm nhiệm lâu dài như vậy những trách nhiệm cao cấp?
 
Ông khuyến khích “những con người trên trận địa, những người biết rõ địa điểm, tình trạng và thời gian thích hợp nhất để hành động, được quyền quyết định". Khi tôi hỏi tướng Marcel Bigeard bình luận về năng lực quân sự của ông Giáp, tướng Bigeard trả lời rất khâm phục ông Giáp. “Ông đã học thuộc những bài học sai lầm và không lặp lại chúng” và “ông đã chỉ huy thắng lợi những đơn vị của ông trong thời gian dài đáng chú ý; trong vòng 30 năm đã lập nên một kỳ tích chưa từng có”. Bất kỳ lúc nào “đối với Giáp, đời sống bản thân không đáng gì”. Bigeard cũng rất tôn trọng những người Việt Nam.
 
“Họ là những người dũng cảm, ngay thẳng, thông minh, lao động”. Ông thành thật xúc cảm thêm: “người Việt Nam yêu chúng ta, và chúng ta, những người Pháp cũng yêu họ. Một ngày nào đó, chúng ta sẽ cưới nhau…”. Về phần mình, tướng William C. Westmoreland cũng rất khâm phục người Việt Nam. Họ tin tưởng những người cùng làm việc ở miền Nam, nhưng “vấn đề lớn là những người nông dân ở xa thành phố không tôn trọng chính phủ trung ương chút nào: dưới con mắt họ, không có gì hơn là chế độ thuộc địa kéo dài, do đó chúng ta khó mà liên minh với họ trong cuộc chiến tranh này”, hơn nữa “có rất nhiều dân tộc thiểu số; không phải là một xã hội đồng nhất".
 
Còn về phẩm chất của một người chỉ huy quân sự lỗi lạc: khả năng ra những quyết định, sức mạnh tinh thần, khả năng tập trung, không quên trí thông minh đã gắn bó tất cả các phẩm chất trên- Westmoreland tin tưởng ông Giáp “có tất cả các phẩm chất đó”. Đó là một con người rất “quyết tâm, một vì tướng vĩ đại”. Song ông “mắc lỗi vì lạc quan: mặc dù mọi nỗ lực suốt trong cuộc tấn công nhân dịp Tết, ông không thấy dấu hiệu nào của tổng khởi nghĩa mà ông đã tính toán”. Xung quanh vấn đề nhận xét con người Westmoreland nghĩ rằng ông Giáp “không có sự lựa chọn, những tài năng thường hiếm.
 
Westmoreland nhận xét ông Giáp làm chủ được bản thân: “Mọi người chỉ huy quân sự ở cấp cao phải có phẩm chất ấy, nếu không không thể lâu dài được”. Ông Giáp là người táo bạo quyết tâm, ông có “khả năng chi phối những người của ông vì những câu chuyện huyền thoại xung quanh ông và vầng sáng lạc quan của ông”. Ông Giáp “tin vào sức thuyết phục của ông; ông tưởng rằng điều người ta muốn nói với ông vì họ nghĩ rằng điều đó ông muốn nghe”. Chắc rằng ông cũng luôn luôn đối xử như thế với những cán bộ cao cấp, hoặc là lính hoặc là chính khách.
 
Trả lời một câu hỏi về cuộc đời chính trị kéo dài của ông Giáp, Westmoreland hăng hái cho rằng đối với một vị tướng, điều đó phụ thuộc dư luận công chúng: “Nếu không được sự nâng đỡ của dư luận, không vị tướng nào có thể tự đặt ra cho mình, dù cho uy lực của niềm tin bản thân đến thế nào”. Và sở dĩ Hoa Kỳ không thắng được là vì “các mặt tiêu cực của cuộc chiến tranh đã là đối tượng cho công luận quá khích (vì các loại thông tin đại chúng), còn các mặt tích cực thực tế không được tỏ rõ”. Hơn nữa nếu Hoa Kỳ đã sử dụng ngay từ năm 1968 một lực lượng máy bay B52 như năm 1972, thì Hà Nội đã phải ngồi lại bàn đàm phán từ ngày đó; chiến tranh sẽ không kéo dài và hàng nghìn sinh mạng của Mỹ và Việt Nam đã được cứu vớt”.
 
Song câu trả lời ấy cho rằng dư luận công chúng Mỹ ở thời kỳ ấy đã tha thứ cho một sáng kiến như vậy ư? Hoàn toàn không chắc chắn như thế. Năm 1968, đất nước bị chia rẽ hơn bao giờ hết kể từ cuộc chiến tranh ly khai; còn 1972, trái lại Tổng thống Nixon có thể dựa vào ý chí thất vọng của nhân dân Mỹ để tìm một giải pháp với bất kỳ giá nào, hoặc gần như thế. Khi nói về chiến tranh sức mạnh của nhân cách ông xuất hiện thật rõ như trong trang bài có quan hệ đến Điện Biên Phủ...
 
  Nhà báo & công luận

So sánh 3 chiến lược chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam

1. Nguyên nhân tiến hành:
Chúng ta thấy cả 3 chiến lược chiến tranh này đều đưa ra sau thất bại của 1 chiến lược trước đó.
a) Chiến lược chiến tranh đặc biệt:
-Từ cuối năm 1960,hình thức thống trị của Mĩ bằng chính quyền tay sai độc tài Ngô Đình Diệm với những chiến dịch tố cộng diệt cộng, với luật 10/59...bị thất bại .
+ Năm 1959-1960 nhân dân miền Nam Đồng Khởi, kết quả là phá vỡ từng mảng lớn chính quyền địch ở Nam Bộ và một số nơi khác, làm cho chính quyền Ngô Đình Diệm lung lay tận gốc.Sau Đồng Khởi, cách mạng miền Nam hình thành vùng giải phóng, mặt trận dân tộc giải phóng và lực lượng cách mạng.
+Sự phát triển của cách mạng Việt Nam đe dọa trực tiếp đến chế độ thuộc địa kiểu mới của Mỹ, vì vậy buộc Mỹ phải tìm cách đối phó.
-Trong khi đó,phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới phát triển rất mạnh. Từ năm 1960,nhiều nước ở khu vực Á,Phi,Mỹ Latinh đã giành độc lập. Sự phát triển của phong trào giải phóng dân tộc đã đe dọa trực tiếp đến hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc.
->Để đối phó lại, sau khi lên nắm chính quyền,tổng thống Mỹ Kennodi đã đề ra chiến lược toàn cầu phản ứng linh hoạt và tiến hành chiến tranh xâm lược miền Nam Việt Nam.Mỹ thực hiện thí điểm ở miền Nam Việt Nam chiến lược toàn cầu mới và đề ra chiến lược chiến tranh đặc biệt.Mỹ tiến hành chiến tranh đặc biệt nhằm mục đích: Tiêu diệt lực lượng cách mạng miền Nam Việt Nam và rút ra bài học kinh nghiệm để đàn áp phong trào cách mạng thế giới.

b. Chiến tranh cục bộ:
Mỹ thất bại nặng nề ở miền Nam Việt Namtrong cuộc “chiến tranh đơn phương”(1954-1959) và “chiến tranh đặc biệt”(1961-1965). Để cứu vãn sự sụp đổ của chính quyền Ngụy Sài Gòn và để tiếp tục thực hiện ý đồ biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới nên đế quốc Mỹ tiến hành cuộc chiến tranh cục bộ ở miền Nam Việt Nam từ 1965-1968. Đồng thời với việc tiến hành chiến tranh cục bộ ở miền Nam Mỹ mở rộng chiến tranh phá hoại miền Bắc.
Việc đưa quân viễn chinh Mỹ,quân chư hầu cùng với vũ khí,phương tiện chiến tranh hiện đại ở miền Nam là Mỹ muốn tạo ra 1 sự chuyển biến mạnh mẽ để trong một thời gian ngắn sẽ cứu vãn được sự sụp đổ của ngụy quyền Sài Gòn,tiêu diệt lực lượng cách mạng, dập tắt phong trào đấu tranh của nhân dân ta. Qua đó Mỹ cũng muốn chứng tỏ trước thế giới về sức mạnh và khả năng hùng hậu của Mỹ để tiếp tục thực hiện chiến lược toàn cầu phản cách mạng.
Mỹ tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc là nhằm triệt phá tiềm lực về kinh tế và quốc phòng,phá công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, ngăn chặn sự chi viện từ bên ngoài vào miền Bắc và chi viện của miền Bắc cho miền Nam.Vì vậy phối hợp với chiến tranh cục bộ ở miền Nam,Mỹ tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng không quân và hải quân.

c.Chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh và Đông Dương hóa chiến tranh(1968-1973)
Cuộc tổng tiến công và nổi dậy năm 1968 mở đầu bằng cuộc tập kích chiến lược tết Mậu thân đã làm phá sản chiến lược chiến tranh cục bộ của Mỹ,làm chấn động dư luận nước Mỹ và thế giới.
Sau đòn bất ngờ tết Mậu thân,phong trào chống chiến tranh xâm lược Việt Nam, đòi rút hết quân đội về nước của nhân dân rấy lên khắp nước Mỹ.
Lợi dụng tâm lý chống chiến tranh Việt Nam của nhân dân Mỹ, Nichxon tung ra lời hứa sẽ chấm dứt chiến tranh trong vòng 6 tháng với mong muốn trúng cử tổng thống vào năm 1968
Sau khi trúng cử tổng thống, Ních xon đã đưa ra học thuyết mang tên mình và tiếp tục đẩy mạnh cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương mưu toan khôi phục lại sức mạnh của Mỹ, cố giữ vai trò lãnh đạo thế giới tự do...
Học thuyết này được thực hiện thí điểm ở Việt Nam và Đông Dương,nó nằm trong “chiến lược quân sự toàn cầu ngăn đe thực tế”.Ở Việt Nam là Việt Nam hóa chiến tranh và ở Đông Dương là Đông Dương hóa chiến tranh.

2. Âm mưu,thủ đoạn
Điểm giống nhau của 3 chiến lược này ở chỗ nó đều là các chiến lược chiến tranh xâm lược thực dân mới của Mỹ nằm trong chiến lược toàn cầu, với âm mưu biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mỹ.Và trong cả ba chiến lược áp dụng đối với miền Nam này đều có hoạt động phá hoại miền Bắc.
Nhưng mỗi chiến lược chiến tranh lại có những điểm khác nhau 

a.Chiến lược chiến tranh đặc biệt
Âm mưu:Chiến tranh đặc biệt là hình thức chiến tranh xâm lược thực dân mới của Mỹ được tiến hành bằng quân đội tay sai dưới sự chỉ huy của hệ thống cố vấn quân sự Mỹ,dựa vào vũ khí,phương tiện chiến tranh của Mỹ nhằm chống lại các lực lượng cách mạng và nhân dân ta, nhằm biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mỹ. Như vậy âm mưu cơ bản của chiến tranh đặc biệt là dùng người Việt Nam đánh người Việt Nam
Thủ đoạn:
-Cuối năm 1961,Mỹ đề ra kế hoạch Xtalaay-taylo với tư tưởng bình định miền Nam Việt Namtrong vòng 18 tháng
-Đầu năm 1964,khi 18 tháng đã qua mà miền Nam vẫn chưa được bình định,Mỹ đặt ra một yêu cầu là bình định miền Nam có trọng điểm trong vòng 2 năm.
Để thực hiện kế hoạch chiến lược trên,Mỹ tăng nhanh viện trợ quân sự cho Diệm, đưa vào miền Nam số lượng ngày càng lớn cố vấn quân sự: Cuối 1960 có 1100,cuối 1962 có 11000 người,cuối 1964 có 26000.Chúng thiết lập ở Sài Gòn bộ chỉ huy quân sự Mỹ MACV vào năm1962.
Về phía ngụy,chúng ra sức bắt lính,tăng nhanh lực lượng quân ngụy từ 170000 giữa 1961 lên 560000 năm1964.Quân ngụy được trang bị hiện đại,sử dụng phổ biến các chiến thuật mới như trực thăng vận, thiết xa vận. Được sự hỗ trợ chiến đấu và sự chỉ huy của cố vấn Mỹ, quân Ngụy đã mở nhiều cuộc hành quân càn quét nhằm tiêu diệt lực lượng cách mạng và tiến hành nhiều hoạt động phá hoại miền Bắc.Chúng còn hoạt động kiểm soát,phong tỏa biên giới, phong tỏa cửa biển nhằm ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc cho miền Nam
Dựa vào lực lượng quân sự và bằng những cuộc hành quân càn quét,Mỹ,ngụy ra sức dồn dân,lập ấp chiến lược. Chúng dự định dồn 10 triệu nông dân vào 16000 ấp trong tổng số 17 nghìn ấp trên toàn miền Nam.Ấp lập đến đâu địch giăng đồn bốt,bảo an,dân vệ,chính quyền ngụy đến đó để kìm kẹp.Chúng coi ấp chiến lược là một chính sách quan trọng để tách dân ra khỏi lực lượng cách mạng nhằm thực hiện chiến tranh bình định miền Nam.
Như vậy ngụy quân,ngụy quyền và ấp chiến lược là 3 điểm then chốt của chiến lược chiến tranh đặc biệt.

b. Chiến tranh cục bộ
Âm mưu:
Chiến tranh cục bộ chính thức bắt đầu từ giữa năm1965(đến 1968),là loại hình chiến tranh xâm lược thực dân mới của Mỹ được tiến hành ở miền Nam Việt Nam bằng lực lượng quân viễn chinh Mỹ, lực lượng của 1 số nước thân Mỹ(Hàn Quốc,TháiLan,Philippin,Niudilan,Oxtraylia)và quân ngụy tay sai ở miền Nam trong đó quân Mỹ giữ vai trò quan trọng và không ngừng tăng lên về số lượng và trang bị.
Việc đưa quân viễn chinh Mỹ và quân một số nước thân Mỹ vào miền Nam Việt Nam để tiến hành chiến tranh là Mỹ muốn tạo ra ưu thế về binh lực và hỏa lực ,giành thế chủ động trên chiến trường,buộc ta phải phân tán đánh nhỏ ở nhiều nơi làm cho lực lượng cách mạng lụi dần và từng bước bị tiêu diệt. Việc đưa các nước thân Mỹ vào tham gia chiến tranh chúng còn thực hiện quốc tế hóa một phần chiến tranh ở Việt Nam.
Thủ đoạn:
Thực hiện cuộc chiến tranh cục bộ ở miền Nam,số lượng lính Mỹ đưa vào miền Nam ngày một tăng: Cuối 1964 là 26000 tên,cuối 1965 là 200000,cuối 1965 là 537000 tên, chưa kể 70000 hải quân và không quân của Mỹ trên các căn cứ của Mỹ ở các nơi khác cũng sẵn sàng tham chiến
Ỷ vào ưu thế quân sự với quân đông,vũ khí hiện đại,hỏa lực mạnh,cơ động nhanh,Mỹ vừa mới vào miền Nam đã cho quân viễn chinh mở ngay cuộc hành quân “tìm diệt” mang tên “ánh sáng sao” vào căn cứ của quân giải phóng ở Vạn Tường.Tiếp đó Mỹ mở liền hai cuộc phản công chiến lược trong hai mùa khô 1965-1966,1966-1967 bằng hàng loạt các cuộc hành quân ‘tìm diệt” và “bình định” vào “đất thánh Việt cộng”
Đối với miền Bắc, Mỹ dựng nên sự kiện Vịnh Bắc Bộ vào tháng 8-1964, gây chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân nhằm đánh phá miền Bắc,ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc cho miền Nam, và âm mưu làm giảm ý chiến đấu của 2 miền.

c.Việt Nam hóa chiến tranh

Âm mưu
Việt Nam hóa chiến tranh là chiến lược chiến tranh xâm lược thực dân mới của Mỹ tiếp sau hai chiến lược chiến tranh đặc biệt và cục bộ đã bị phá sản. Đó là những cuộc chiến tranh xâm lược thực dân mới của Mỹ, không khác nhau về bản chất.Do đó âm mưu của Việt Nam hóa chiến tranh về cơ bản vẫn là âm mưu nô dịch nhân dân ta,đàn áp cách mạng ,tiếp tục âm mưu phá hoại hậu phương của cuộc kháng chiến ở miền Bắc.
Cái khác của Việt Nam hóa chiến tranh là nó được tiến hành bằng quân đội Sài Gòn là chủ yếu, có sự phối hợp về hỏa lực,không quân , hậu cần Mĩ,và vẫn do Mỹ chỉ huy bằng hệ thống cố vấn.Ngoài ra,thực hiện chiến lược chiến tranh này Mĩ còn âm mưu mở rộng chiến tranh ra toàn cõi Đông Dương.
Thủ đoạn 
Với chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh,quân Mỹ và quân đồng minh rút dần khỏi chiến tranh để giảm xương máu của người Mĩ trên chiến trường, đồng thời là quá trình tăng cường lực lượng quân đội Sài Gòn nhằm tận dụng xương máu người Việt Nam.Thực chất đó là sự tiệp tục âm mưu dùng người Việt đánh người Việt của Mĩ
Quân đội Sài Gòn được Mĩ sử dụng như một lực lượng xung kích ở Đông Dương trong các cuộc hành quân mở rộng xâm lược Cam puchia,tăng cường chiến tranh ở Lào, thực hiện âm mưu dùng người Đông Dương đánh người Đông Dương.
Mĩ còn dùng thủ đoạn ngoại giao như lợi dụng mâu thuẫn Trung-Xô, thỏa hiệp với Trung Quốc, hòa hoãn với Liên Xô nhằm hạn chế sự giúp đỡ của các nước này đối với cuộc kháng chiến của ta,câu kết với bọn phản động quốc tế chống lại phong trào cách mạng nước ta.
Mĩ gây lại cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân ra miền Bắc bằng những thủ đoạn tàn bạo chưa từng có trước đó,mang tính chất hủy diệt như thả mìn cửa sông,phong tỏa bờ biển, dùng B52 mở những cuộc tập kích nơi đông dân ,các trung tâm kinh tế,chính trị, quân sự.
Trên đây là một vài điểm cần chú ý khi tìm hiểu về 3 chiến lược chiến tranh của Mĩ tại Việt Nam.Đó đều là các chiến lược chiế tranh xâm lược thực dân mới với những âm mưu và thủ đoạn tàn bạo.Nhưng nhân dân ta đã anh dũng đứng lên đánh bại các chiến lược chiến tranh của Mĩ, giành thắng lợi cho dân tộc, thực hiện hòa bình, thống nhất nước nhà.

Âm mưu và thủ đoạn của Mĩ trong chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” và “Đông Dương hóa chiến tranh”.


Âm mưu và thủ đoạn của Mĩ trong chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” và “Đông Dương hóa chiến tranh”. Nêu những thắng lợi chung của nhân dân ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia trên các mặt trận quân sự, chính trị, ngoại giao trong chiến đấu chống “Việt Nam hóa chiến tranh” và “Đông Dương hóa chiến tranh”của Mĩ (1969 - 1973).

Hướng dẫn trả lời
1. Chiến lược “Việt Nam hóa” và “Đông Dương hóa” chiến tranh của Mỹ
a. Bối cảnh :Đầu năm 1969, Tổng thống Níchxơn vừa lên nắm chính quyền đã đề ra chiến lược toàn cầu “Ngăn đe thực tế”. Sau thất bại của chiến lược “Chiến tranh cục bộ”, Mỹ phải chuyển sang chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” và “Đông Dương hóa chiến tranh”.

b. Âm mưu :
- Đây là hình thức chiến tranh thực dân kiểu mới được tiến hành bằng quân đội Sài Gòn là chủ yếu, có sự phối hợp của hỏa lực và không quân Mỹ, vẫn do Mỹ chỉ huy bằng hệ thống cố vấn.
- Mở rộng xâm lược Lào và Campuchia, thực hiện âm mưu “Dùng người Đông Dương đánh người Đông Dương”.
- Mỹ tăng viện trợ giúp quân số ngụy tăng lên 1 triệu người cùng với trang thiết bị hiện đại để quân ngụy tự gánh vác được chiến tranh.
- Lợi dụng mâu thuẫn Trung - Xô, thoả hiệp với Trung Quốc, hoà hoãn với Liên Xô nhằm hạn chế sự giúp đỡ của các nước đó đối với cuộc kháng chiến của nhân dân ta.

2. Chiến đấu chống chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” và “Đông Dương hóa chiến tranh” của Mỹ.
- Chiến đấu chống “Việt Nam hóa chiến tranh” là chống lại cuộc chiến tranh toàn diện được tăng cường và mở rộng ra toàn Đông Dương. Ta vừa chiến đấu trên chiến trường vừa đấu tranh trên bàn đàm phán với địch.
- Năm 1969, thực hiện Di chúc của Bác Hồ, cả nước đẩy mạnh cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
a. Thắng lợi về chính trị, ngoại giao :
+ Ngày 6/6/1969, Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam thành lập, được 23 nước công nhận, 21 nước đặt quan hệ ngoại giao.
+ Trong hai năm 1970 – 1971, nhân dân ta cùng với nhân dân hai nước Campuchia và Lào đã giành được những thắng lợi có ý nghĩa chiến lược trên mặt trận quân sự và chính trị.
+ Ngày 24 đến 25/4/1970: Hội nghị cấp cao 3 nước Đông Dương họp nhằm đối phó việc Mĩ chỉ đạo bị tay sai làm đảo chính lật đổ Chính phủ trung lập của Xihanúc (18/3/1970) để chuẩn bị cho bước phiêu lưu quân sự mới; biểu thị quyết tâm đoàn kết chống Mỹ.
+ Ở các nơi khác, phong trào đấu tranh của các tầng lớp nhân dân và sinh viên, học sinh nổ ra liên tục.
+ Quần chúng nổi dậy phá “Ấp chiến lược”, chống “bình định”. Đầu năm 1971, cách mạng làm chủ thêm 3600 ấp với 3 triệu dân

b. Thắng lợi quân sự :
+ Từ ngày 30/4 – 30/6/1970, quân dân Việt – Campuchia đập tan cuộc hành quân xâm lược Campuchia của 10 vạn Mỹ và quân Sài Gòn, loại khỏi vòng chiến 17.000 địch, giải phóng 5 tỉnh đông bắc với 4,5 triệu dân.
+ Từ 12/2 đến 23/3/1971, quân dân Việt – Lào đập tan cuộc hành quân “Lam Sơn 719” của Mỹ và quân Sài Gòn, loại khỏi vòng chiến 22.000 địch, giữ vững hành lang chiến lược của cách mạng Đông Dương.
+ Thắng lợi trên mặt trận quân sự đã hỗ trợ và thúc đẩy phong trào đấu tranh chính trị, chống “bình định”.